Tuyên ngôn về Đoàn sủng Cát Minh Tê-rê-xa

NGƯỜI TU SĨ CÁT MINH TÊ-RÊ-XA HÔM NAY

Tuyên ngôn về Đoàn sủng Cát Minh Tê-rê-xa

Đã được Tổng Tu Nghị OCD 2021 phê chuẩn

Người dịch: Fx Nguyễn Quách Tiến, OCD

Lời giới thiệu [HP (Hiến Pháp OCD) 1, 14]

Dòng Cát Minh Tê-rê-xa, được Thánh nữ Tê-rê-xa Chúa Giêsu khởi xướng dựa trên nguồn gốc cổ xưa của gia đình Dòng Cát Minh, tính đến nay đã là một Hội dòng có một lịch sử lâu dài và phong phú. Trong suốt dòng thời gian ấy, hội dòng đã lan tỏa mọi nơi trên thế giới và mang nhiều hình thức, lối sống đa dạng được thể hiện trong vô số nền văn hóa. Sự đa dạng hiện diện trong thực tế ngày nay của Dòng về mặt xuất xứ, văn hóa, việc đào tạo, sự nhạy cảm và các hoạt động khiến chúng ta phải tạ ơn về sự phong nhiêu của đoàn sủng của chúng ta, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải nuôi dưỡng lòng trung thành với các yếu tố vĩnh hằng của đặc sủng cũng như với sự hiệp nhất của gia đình của chúng ta dựa trên tinh thần chung làm nên chúng ta trong một thân thể duy nhất.

Ngày nay, chúng ta cảm nhận được một thách đố cấp thiết trong việc đảm nhận sự phong phú của đoàn sủng đã được trao ban cho chúng ta và trong việc tiếp tục cập nhật nó để rồi nó có thể tiếp nhận một sức sống mới và luôn hợp thời. Đoàn sủng mà thánh Tê-rê-xa Chúa Giê-su đã đón nhận, đã sống và đã truyền lại là một thực tại năng động mà chính nó luôn phát triển và được diễn tả trong những hình thức luôn mới mẻ. Xuất phát từ những nguồn cội ngôn sứ và thánh mẫu, đoàn sủng Tê-rê-xa đã được làm cho phong phú và phát triển qua các thế kỷ nhờ những vị thánh tiêu biểu của Dòng. Cùng với thánh Tê-rê-xa, thánh Gioan Thánh Giá đại diện cho giây phút sáng lập khởi đầu của công cuộc cải tổ. Ngoài ra còn có thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, Tiến sĩ Hội thánh cùng với hai nhà thần bí Tây Ban Nha, người đã mở ra con đường thơ ấu thiêng liêng; thánh Elizabeth Chúa Ba Ngôi là người làm chứng cho kinh nghiệm thân mật và đặc biệt về mầu nhiệm Ba Ngôi; thánh Raphael của thánh Giu-se (Kalinowski), người cổ võ cho sự hiệp nhất của Giáo hội; thánh Tê-rê-xa Benedicta Thánh Giá, người kết hiệp tình yêu sâu xa của mình cho chân lý với việc dâng hiến đời mình trong các trại tập trung đầy chết chóc. Cũng như vậy, sự phong nhiêu của đoàn sủng Cát Minh được trao phó cho chúng ta cả trên bình diện cá nhân và cộng đoàn của chúng ta.

Chúng ta phải “luôn bắt đầu” lại (Ký sự 29:32) để trở nên “nền móng cho những ai đến sau” (Ký sự 4:6) mà không bị làm tù nhân của vinh quang quá khứ cũng như không để cho ân sủng của giây phút hiện tại trôi qua, giây phút hiện tại mà trong đó chúng ta được mời gọi làm việc một cách cụ thể để xây dựng Dòng Cát Minh mà thời đại của chúng ta đang cần đến.

Công đồng Vaticano II đã yêu cầu một cách rõ ràng cần phải khởi xướng một cuộc canh tân thích nghi đời sống tu trì (accommodata renovatio). Và ít lâu sau Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tỏ cho thấy một tiến trình như thế cần phải là một tiến trình liên tục: “Việc canh tân thích nghi không chỉ được thực hiện một lần cho tất cả nhưng phải được khuyến khích thực hiện trong một tiến trình liên tục nhờ lòng nhiệt thành của các tu sĩ và sự quan tâm của các hội đồng và các bề trên” (Ecclesiae Sanctae II,19).

Việc soạn thảo những hiến chế và những quy tắc áp dụng sau Công Đồng là một chặng đường căn bản cho việc canh tân mà Công Đồng đã yêu cầu. Tuy nhiên, sự tiến triển nhanh chóng và sâu xa đang diễn ra trong xã hội và các nền văn hóa cũng như trong các dòng tu đòi hỏi một sự phân biện liên tục nhằm đáp trả thực tế hôm nay thể theo đặc sủng và luôn cập nhật. Theo những hướng dẫn của Hội Thánh, chúng ta được khuyến khích khơi lại ước muốn và thực hành canh tân liên tục. Đó là điều kiện cần thiết cho một sự trung thành nhập thể đối với đoàn sủng của chúng ta. Sự canh tân đổi mới được Công Đồng đòi hỏi vẫn chưa hoàn tất, bởi vì sự đổi mới này sẽ không bao giờ có thể kết thúc được.

Trong hành trình thực hiện những gì chúng ta được kêu gọi, chúng ta còn có một gương mẫu chắc chắn nơi “cha thánh Giu-se vinh hiển của chúng ta”. Ơn gọi của chúng ta bắt đầu với việc quảng đại dâng hiến chính mình, nhưng chóp đỉnh là sự trưởng thành của quà tặng của việc làm cha. Về điều này, trái tim của thánh Giu-se, cha của Chúa Giê-su là một mẫu gương sáng ngời. Việc làm cha trọn vẹn và hạnh phúc của ngài hệ tại ở dâng hiến mình hoàn toàn (Patris Corde, 7). Cùng với thánh Tê-rê-xa Chúa Giê-su và các thánh Dòng Cát Minh, chúng ta trao phó mình cho người cha ấy trong việc đọc và áp dụng tài liệu này.

I. Đáp trả tiếng gọi

  1. Kinh nghiệm về ơn gọi (HP 15b, 104)

Vào lúc khởi đầu hành trình của đời sống tu sĩ Cát Minh của mình, mỗi người chúng ta đã nhận ra tiếng Chúa gọi dành riêng cho mỗi người. Không phải quyết định riêng đã đưa chúng ta vào Dòng Cát Minh. Nhưng đó là chọn lựa tự do của Thiên Chúa mà mỗi chúng ta đã kinh nghiệm theo cách riêng của mình. Chúng ta nhận thức rằng ơn gọi và lời đáp trả đều là công việc của Chúa Thánh Thần: Chúa Thánh Thần của Đấng Phục Sinh mà chúng ta đã lãnh nhận trong ngày rửa tội là Đấng kêu gọi và làm sinh động sự tự do của con người đáp trả.

  1. Trên đường tiến đến căn tính

Tiến trình phân định, chấp nhận, và tiệm tiến đồng hóa với căn tính đoàn sủng đã được bắt đầu bằng sự đáp trả cá nhân và tự do khi mỗi người đón lấy và chấp thuận tiếng gọi. Sự đồng hóa này sẽ phát triển và đạt đến sự trưởng thành trong một tiến trình kéo dài suốt đời.

  1. Tiếng gọi luôn luôn mới (HP, Lời Kết)

Quan tâm cho tương lai không được làm cho chúng ta đánh mất kinh nghiệm của mình về tiếng gọi, bởi đó chính là nền tảng vững chắc của sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta không biết tương lai của Dòng sẽ như thế nào, cái phần mà chúng ta được thuộc về lại càng không biết. Chúng ta cũng không biết đời sống thánh hiến sẽ xảy ra dưới hình thức nào, các định chế của Giáo hội mà chúng ta quen cho rằng sẽ không bao giờ thay đổi, sẽ thay đổi ra sao. Tuy nhiên chúng ta không cần phải lo lắng về điều này. Thay vào đó chúng ta phải tiến hành những bước cụ thể dưới ánh sáng của kinh nghiệm chúng ta đang mang trong mình, kinh nghiệm mà từ đó đời sống và căn tính thiêng liêng của chúng ta đã bắt đầu và tiếp tục tuôn chảy. Mọi thứ có thể bị lấy đi nhưng “nguồn suối ẩn kín” này, thứ nuôi dưỡng hy vọng của chúng ta thì không.

II. Đoàn sủng và Đào tạo

      4. Một căn tính đang được đào tạo

Chúng ta không thể tách rời việc bàn về đào tạo với việc bàn về căn tính. Thực ra, căn tính đoàn sủng chỉ hiện hữu như là căn tính đang được đào tạo (identity-in-formation), nghĩa là đang trong một tiến trình của sự đồng hóa cá nhân và cộng đoàn, và việc đào tạo chỉ tồn tại trong chức năng của một căn tính được nhận diện và phát triển.

      5. Cuộc cải tổ của thánh nữ Tê-rê-xa là một con đường của đào tạo (HP 5,9)

Cuộc cải tổ của thánh nữ Tê-rê-xa trước hết và trên hết là một hành trình của việc đào tạo để học lại làm thế nào để sống ơn gọi Cát Minh dựa trên nền tảng của kinh nghiệm mới về sự hiệp nhất với Thiên Chúa. Các tác phẩm của ngài, cụ thể là Đường Hoàn Thiện, được viết ra như là những công cụ cho việc đào tạo về một cách sống cụ thể tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, với chính mình và với những người bạn đồng hành. Cũng tương tự như vậy, việc trở về với những nguồn mạch của đoàn sủng mà Công đồng Vatican II ao ước phải được thực hiện với mục đích đào tạo lại và học lại làm thế nào để sống đời tu như thánh nữ Tê-rê-xa và thánh Gioan Thánh Giá đã dạy chúng ta. Thực ra, chúng ta phải nhận ra rằng mặc dù từ sau Công Đồng, Dòng đã đi một chặng đường đặc biệt về mặt suy tư lý thuyết, chúng ta vẫn đang còn tìm kiếm một hình thức sống cho trung thành với những ý tưởng ban đầu của thánh Tê-rê-xa và cho phù hợp với thời đại mà chúng ta đang sống.

  1. Đào tạo toàn diện (HP 108)

Đáp trả tiếng gọi đưa chúng ta vào một kinh nghiệm sống mà nó có những đặc tính riêng và cụ thể và đã được những người làm nên gia đình tu sĩ của Dòng Cát Minh Tê-rê-xa phát triển, sống và truyền lại. Với những ai được kêu gọi, một con đường của sự hấp thụ và trưởng thành nhân bản, tin mừng, thiêng liêng và tri thức được mở ra. Tương lai ơn gọi của mỗi người lệ thuộc vào sự dấn thân này và mỗi cá nhân khi đáp trả tiếng gọi phải lãnh lấy trách nhiệm thực hiện việc đào tạo của chính mình.

  1. Cộng đoàn là một không gian cho đào tạo (HP 109)

Việc đào tạo tốt không bao giờ là bổn phận của một cá nhân nhưng là của một cộng đoàn gắn bó với nhau bằng một lối sống huynh đệ cụ thể dấn thân để “giải thoát cho nhau khỏi ảo tưởng” (Tự thuật 16:7). Căn tính cụ thể của một nhóm người được nhận ra nhờ chất lượng của công trình đào tạo tập thể hướng đến chính nó, cũng như hướng đến các thành viên mới của nó. Sống chung với nhau mỗi ngày “hình thành” nên chúng ta, nghĩa là, nó giúp chúng ta quen với một cách nghĩ, cách phán đoán và hành động thay vì là cách này cách kia.

  1. Mỗi cộng đoàn là một cộng đoàn đào tạo (HP 129)

Việc đào tạo không chỉ được giới hạn nơi các cộng đoàn đào tạo ban đầu. Tất cả các cộng đoàn của chúng ta phải được mời gọi trở thành những cơ cấu đào tạo có khả năng thúc đẩy và đồng hành việc phát triển con người và có khả năng đem lại cho họ một căn tính mới. Mỗi cộng đoàn phải là một thực tại làm cho con người thăng tiến, làm cho họ trưởng thành hơn, cầu nguyện hơn, có tình huynh đệ hơn, yêu mến Chúa hơn và quan tâm hơn đến lợi ích của dân Ngài. Chắc chắn là không có những cộng đoàn lý tưởng hoặc hoàn hảo, nhưng một cộng đoàn tu trì chỉ hiện hữu nếu bao lâu nó còn đi tìm và đang trên hành trình tiến đến sự viên mãn của ơn gọi Cát Minh của nó. Nếu nó đánh mất cái mục tiêu này, hiển nhiên nó sẽ trở thành một thứ gì khác.

  1. Đào tạo không ngừng nghỉ (HP 126)

Vì vậy cần biết rằng chúng ta được bao bọc bởi một căn tính năng động mà nó đang lớn lên và đang phát triển. Một khi được đón nhận, nó sẽ được gìn giữ và cập nhật liên tục như một sự đáp trả đối với những thay đổi trong bối cảnh chúng ta đang sống và đối với những dấu chỉ của thời đại. Toàn bộ đời sống của người tu sĩ Cát Minh trở thành một hành trình không ngơi nghỉ vì biết rằng khi chúng ta không tiến về phía trước, chúng ta sẽ dừng lại và khi chúng ta không lớn lên, chúng ta sẽ nhỏ lại (x. Lđnt 7,4,9). Trên hết, chúng ta được mời gọi sống trong một tâm thái luôn sẵn sàng học hỏi và lớn lên với một sự ngoan ngùy (docibilitas) đích thật giúp chúng ta mở ra với sự canh tân liên tục. Điều này được áp dụng với từng cá nhân, với mỗi cộng đoàn và với cả toàn Dòng. Trong tiến trình đào tạo này, sự toàn nhập (integration) tiệm tiến của các lời khấn trong đời sống tu trì của mỗi tu sĩ Cát Minh trở thành nền tảng. Các lời khấn không phải là tình trạng thủ đắc và tĩnh tại của đời sống những là những giá trị cần được hấp thụ và sống mỗi ngày. Chỉ như thế các lời khấn mới đóng góp cho tiến trình đào tạo liên tục.

  1. Chuẩn bị tri thức (HP 90, 101, 125)

Ngoài kinh nghiệm về Thiên Chúa trong câu nguyện, một chiều kích nền tảng của đào tạo, mà thánh Tê-rê-xa đã ý thức rất rõ, là việc nghiên cứu học hỏi nghiêm túc và sâu xa về thần học và linh đạo cũng như về các khoa học nhân văn để giúp chúng ta hiểu biết hơn về chính mình và thế giới chúng ta đang sống. Không ai trong chúng ta có thể phục vụ Giáo Hội và thế giới một cách hữu hiệu nếu thiếu một sự chuẩn bị đúng đắn và luôn luôn cập nhật. Toàn thể Dòng cần phải tăng cường nghiên cứu và học hỏi, đặc biệt là về các thánh của chúng ta trong sự đối thoại với tư duy đương đại. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể tiếp tục trình bày sự phong phú của linh đạo Cát Minh Tê-rê-xa một cách có ý nghĩa.

III. Đoàn sủng và cái nhìn của Tê-rê-xa về con người

  1. Là người và là Ki-tô hữu theo con đường Cát Minh

Là một tu sĩ Cát Minh Chân Trần là một cách sống cụ thể điều kiện con người và căn tính Ki-tô giáo. Đoàn sủng Tê-rê-xa chứa đựng một nhân học, một viễn kiến cụ thể về ý nghĩa làm người được nhìn dưới một góc cạnh cụ thể mà nó không khác gì với những đề nghị của Tin Mừng. Chúng ta xác tín rằng viễn kiến của thánh Tê-rê-xa về con người chứng tỏ sự xác đáng cụ thể của nó trong bối cảnh nhân loại luôn đi tìm lẽ sống và hạnh phúc.

  1. Phẩm giá đích thật của con người (HP 10)

Trong bối cảnh văn hóa của chúng ta, đề xuất nhân học của thánh Tê-rê-xa Chúa Giê-su, dựa trên chính chính kinh nghiệm cá nhân của mình về phẩm giá cao cả của con người, có tính soi sáng: “Tôi không tìm thấy bất kỳ điều gì có thể so sánh được với vẻ đẹp tráng lệ của linh hồn cùng với khả năng tuyệt vời của nó” (Lđnt 1, 1, 1). Phẩm giá con người không lệ thuộc vào nét đẹp thể lý, uy tín xã hội nhờ của cải, quyền lực, hoặc dòng dõi quí tộc; tất cả những thứ ấy làm nên “danh dự đen” (negra honra), là một trong những ngẫu tượng của thời đại của thánh Tê-rê-xa mà ngài từ chối tôn thờ. Sự vĩ đại không thể so sánh của con người bắt nguồn từ việc chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng và được Ngài chọn làm nơi cự ngụ của Ngài.

  1. Nội tâm được cự ngụ

Thánh Tê-rê-xa Chúa Giê-su có trực giác, và nó chính là nền tảng của đoàn sủng Tê-rê-xa, rằng lời giải đáp cho những ước muốn và nhu cầu sâu xa nhất của tâm hồn con người được tìm thấy bên trong chúng ta, bên trong “lâu đài nội tâm” của linh hồn, bên trong nội tâm của chúng ta nơi Ba Ngôi Thiên Chúa cư ngụ. Điều này có một sự tương hợp lớn lao với điều Kinh Thánh khẳng định: “Anh em không biết rằng anh em chính là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần của Thiên Chúa cư ngụ trong anh em sao?” (1 Cor 3: 16), và chỗ khác “Nếu anh em yêu mến thầy, anh em sẽ giữ lời thầy và Cha thầy sẽ yêu mến anh em và chúng tôi sẽ đến và cư ngụ trong anh em” (Ga 14:23).

  1. Vào trong chính mình (HP 63)

Thật không may, người ta có thể và thậm chí thường xuyên sống bên ngoài chính mình ở ngoại biên, hời hợt bên ngoài: “Vì có nhiều linh hồn đang ở sân bên ngoài và hoàn toàn không quan tâm đến việc vào lâu đài, họ cũng không biết những gì nằm trong nơi quý giá nhất đó, cũng không biết ai ở trong đó, hoặc thậm chí nó có bao nhiêu phòng” (Lđnt 1, 1, 5).

Chúng ta cần phải trở về với chính mình để khám phá sự giàu có bên trong chúng ta, trước hết, khám phá Vị Khách đang sống ở đó, cái khách thể (the otherness) mà từ đó chúng ta xuất phát và đang trở về. Trở về với chính mình có nghĩa là học biết lắng nghe cuộc đối thoại nội tâm diễn ra bên trong chúng ta, mối tương quan nền tảng mà hữu thể của chúng ta được đặt trên đó. Nhờ nhìn vào chính mình mà chúng ta có thể đi vào chính mình và đối diện với bóng tối, với những tổn thương và những xung đột mà không sợ hãi. Chúng chính là một phần căn tính của chúng ta. “Thật điên rồ khi nghĩ rằng chúng ta phải vào Thiên Đàng mà không vào chính chúng ta, để biết nhau, để lưu tâm đến sự khốn cùng của chúng ta và chúng ta nợ Thiên Chúa những gì, là Đấng mà chúng ta luôn cầu xin lòng thương xót” (Lđnt 2, 11).

  1. Sống và làm chứng cho con người mới

Chúng ta, những tu sĩ Cát Minh Chân Trần, có trách nhiệm và bổn phận phải chỉ cho nhân loại kho tàng này mà chúng ta đã được trao ban và đón nhận. Tuy nhiên, để làm được như vậy, chúng ta cần phải là người đầu tiên có một kinh nghiệm sâu xa về nội tâm và sự nên một với Thiên Chúa của mình. Sự nên một đã biến đổi chúng ta trở thành hình ảnh của Đức Ki-tô, con người mới (cf. 2 Cor 3: 18). Một kinh nghiệm chân thật về Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta sẽ thúc đẩy chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thánh Thần của Ngài trong những tình huống khác nhau của thế giới và kêu gọi chúng ta ra khỏi mình để nhận ra những dấu chỉ của Thiên Chúa trong lịch sử.

  1. Sống trong tương quan

Vậy thì chúng ta phải học gì dưới mái trường của thánh Tê-rê-xa Chúa Giê-su, thánh Gioan Thánh Giá, và các thầy dạy khác của Dòng Cát Minh? Chỉ một lời chúng ta có thể nói: Chúng ta phải học “ở trong tương quan”, tương quan với Thiên Chúa, với chính chúng ta, với người khác, với Giáo hội, và với thế giới. Thực ra, tương quan là sự kết nối yếu nhất trong cách sống của chúng ta hôm nay. Nền văn hóa đang bao bọc chúng ta và lối sống nó sản sinh ra có xu hướng loại trừ tương quan và coi nó như là một yếu tố tiềm tàng gây bất ổn, là kẻ mang theo những thay đổi không thấy trước, không thể kiểm soát và được tháp nhập vào một hệ thống. Thực ra chính nơi các tương quan mà mầu nhiệm vững bền của con người cư ngụ.

  1. Sáng kiến của Thiên Chúa

Yếu tố trung tâm của kinh nghiệm của Tê-rê-xa là tương quan với Chúa. Đó là tương quan đầu tiên và quan trọng nhất mà Thiên Chúa mong muốn thiết lập với chúng ta, giúp chúng ta tham gia vào cuộc sống và mối quan hệ của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đối với thánh Tê-rê-xa và thánh Gioan Thánh Giá, bước đầu tiên và mang tính quyết định trong việc phát triển tương quan với Thiên Chúa là “ý thức” (Ca khúc tâm linh B 1, 1) về Thiên Chúa được mạc khải là ai, về sự hiện diện và hoạt động của Ngài trong chúng ta. Nó không phải là vấn đề “biết” trên bình diện tri thức, nhưng là của sự hiểu biết dựa trên kinh nghiệm làm thay đổi cách chúng ta hiện hữu trong thế giới.

  1. Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Giê-su Ki-tô

Thực tế lớn lao và cao siêu này đã trở nên gần gũi với chúng ta và giúp chúng ta có thể kinh nghiệm về Ngài nơi con người của Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa làm người. Trong nhân tính của mình, Ngài là đường dẫn chúng ta đến sự nhận biết Chúa Cha (x. Ga 14, 6). Dòng Cát Minh Tê-rê-xa hiện hữu như là một lời đáp trả cho việc khám phá Đức Ki-tô là đường dẫn đến chân thiện mỹ của mầu nhiệm hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người và được phản chiếu trong sự hiệp thông của sự sống nơi Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Tê-rê-xa không chỉ nói về một tín điều, nhưng là về những gì ngài đã nghe, đã thấy và đã chiêm ngắm (x. 1Ga 1:1), về một kinh nghiệm mà đã biến đổi ngài một cách triệt để, trở nên trung tâm của sự hiện hữu của ngài và ánh sáng dẫn lối cho ngài. Cái sức mạnh quyến rũ và lôi kéo Tê-rê-xa là Tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Giê-su Ki-tô. “Ngài đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi” (Gal 2:20). Rõ ràng Tê-rê-xa đã bị cái “vì tôi” được ghi dấu nơi toàn bộ con người và hoạt động của Chúa Giê-su Ki-tô, chinh phục. Từ nơi Ngài “mọi điều tốt lành đến với” Tê-rê-xa (Tstt 22:4) và vì lý do này sự tăng trưởng nhân bản và tâm linh của ngài chỉ có thể phát triển như là một sự đào sâu mối tương quan của thánh nữ với Chúa Giê-su, như là một sự thâm nhập vào trong “sâu thẳm” của sự thật của Ngài mà đang được mở ra như là sự thật về Thiên Chúa trong đời sống Ba Ngôi của Ngài, như là sự thật về Giáo hội đang cần được cải tổ, như là sự thật về thế giới đang đợi ơn cứu độ.

  1. Bước theo Đức Giê-su Ki-tô (HP 3a, 15a)

Tu luật Cát Minh nhắc nhở chúng ta rằng mục đích của mọi hình thức tu trì là “bước theo Đức Giê-su Ki-tô hằng sống”. Qui luật ấy có nền tảng trong bản văn của thánh Phao-lô nơi đó thánh Tông đồ bày tỏ lòng ao ước và những nỗ lực của ngài để đem mọi người “đến với sự vâng phục của Đức Ki-tô” (2 Cor 10:5), nghĩa là đến mối tương quan của sự vâng phục trung thành với Đức Ki-tô. Thuật ngữ được thánh Phao-lô sử dụng cho thấy thái độ lắng nghe ngoan ngoãn, và nó trở thành việc hoàn toàn sẵn sàng đối với Đấng ban cho chúng ta sự cứu rỗi và tình yêu của Thiên Chúa. Bước theo (obsequium) là vui vẻ qui phục Đức Ki-tô nhờ đức tin. Chính thánh Phao-lô đã sống mối tương quan của mình với Đức Ki-tô trong sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gal 2:20). Thực sự đây là một lời mời và lời kêu gọi dành cho mọi Ki-tô hữu: “Thiên Chúa luôn trung thành và nhờ Ngài mà chúng ta được gọi vào trong sự hiệp thông với con của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!” (1 Cor 1:9).

  1. Một tương quan mật thiết với Thiên Chúa (HP 15c, 53-55)

Khởi đi từ câu chuyện đời sống Cát Minh của mình và hơn thế nữa từ chính kinh nghiệm cá nhân của mình về sự gặp gỡ với Đức Ki-tô, thánh Tê-rê-xa Chúa Giê-su thể hiện việc bước theo Đức Giê-su Ki-tô như là tình bạn với Đức Tình Quân. Thiên Chúa là Đấng sống trong lâu đài nội tâm của con người và từ đó, từ bên trong làm cho tiếng Ngài được nghe, trao ban tình yêu của Ngài và chờ đợi sự đáp trả của tình yêu. Đoàn sủng Tê-rê-xa cốt yếu hệ tại ở kinh nghiệm về tình bạn. Nó còn có đặc tính của tình bạn và tình yêu. Nó là một kinh nghiệm về tình bạn khao khát được hoàn hảo trong sự tin tưởng và hỗ tương của nó: “Một điều rất quan trọng là luôn có một lương tâm trong sạch đến nỗi không có gì cản trở bạn cầu xin Thiên Chúa ban cho tình bạn hoàn hảo mà tân nương cầu xin” (Suy niệm 2:21). Chúng ta được tạo dựng bởi tình yêu và cho tình yêu. Với thánh Tê-rê-xa, tình bạn không gì khác hơn là sự viên mãn của mối quan hệ tình yêu với Thiên Chúa và với tha nhân: “Chúng ta phải đau buồn và rất hối tiếc vì lỗi của chúng ta mà chúng ta không thể đạt đến tình bạn tuyệt vời này và chúng ta chỉ hạnh phúc với những nhỏ nhoi” (Suy niệm 2:16), và nó là một kinh nghiệm về tình yêu được định nghĩa như là tình phu thê bởi vì nó dẫn linh hồn đến sự hiệp nhất thân tình với Thiên Chúa nhờ hành trình tiệm tiến của sự thanh tẩy và hồi tâm: “Từ hôm nay trở đi, con sẽ là hiền thê của ta. Cho đến lúc này con chưa xứng đáng với nó; từ bây giờ trở đi con sẽ lo cho danh dự của Ta, không phải vì Ta là Đấng Tạo Dựng của con, Vua của con, và Chúa của con, những còn là vì con là hiền thê đích thực của Ta: danh dự của Ta là của con, và danh dự của con là của Ta” (Lời chứng 35). “Có lẽ đây là điều thánh Phao-lô có ý khi nói ai được kết hợp hoặc hiệp nhất với Chúa thì trở nên một tinh thần với Ngài và ám chỉ đến hôn phối cao cả này, cho rằng Chúa đã đưa linh hồn đến với Ngài bằng sự hiệp nhất” (Lđnt 7, 2, 5).

IV. Những yếu tố cốt yếu của Đoàn sủng

       IV. A. Đời sống cầu nguyện

  1. Một kinh nghiệm về tình yêu

Khởi đi từ thực tại nền tảng này, đó là tình bạn với Thiên Chúa, nhiều yếu tố cốt yếu của kinh nghiệm và đề xuất của thánh Tê-rê-xa mặc lấy ý nghĩa: tập trung vào nội tâm, chiêm niệm, và cầu nguyện liên lỉ. Nội dung của cầu nguyện là gặp gỡ cá vị với Thiên Chúa hằng sống. Trên hành trình cầu nguyện mọi sự đều lệ thuộc vào tình yêu: “Điều quan trọng không phải là suy nghĩ nhiều mà là yêu mến nhiều, và vì vậy hãy làm những gì tốt nhất thúc đẩy bạn yêu mến” (Lđnt 4:1:7, x. cf. Tstt 8:5,9; Đht 21,1).). Cầu nguyện là một tương quan của tình bạn, một thực tại của đời sống hướng thần (tin, cậy, mến) mà chúng ta nhận thấy nó hiện diện một cách trọn vẹn nơi con người của Mẹ Maria.

  1. Tìm kiếm Thiên Chúa chứ không phải chính mình (HP 54)

Việc tìm kiếm bình an nội tâm, thiền định như một phương thế để đạt đến sự thanh thản cá nhân, thinh lặng và nội tâm, tuy thường thiếu nội dung hoặc điểm qui chiếu tôn giáo thì đang lan tràn trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, sự tìm kiếm này có tốt và tích cực thế nào đi nữa thì chúng ta cần phải nhấn mạnh rằng việc cầu nguyện Cát Minh (và Ki-tô giáo) có một đặc tính liên vị và luôn luôn là một kinh nghiệm (hoặc ít nhất là một khao khát) của sự gặp gỡ, đối thoại và tương quan. Cầu nguyện không thể chỉ giới hạn ở sự tìm kiếm bình an nội tâm, sự thanh thản hoặc hạnh phúc. Cầu nguyện cũng không đơn giản chỉ là một bổn phận phải tuân giữ.

  1. Tình bạn với Thiên Chúa là một tình trạng thường xuyên (HP 2, 15c, 66)

Tương quan của chúng ta với Thiên Chúa không phải là một kinh nghiệm không thường xuyên nhưng phải trở nên một tình trạng thường xuyên như bất kỳ tương quan chân thực nào của tình bạn hoặc tình yêu. Chúng ta được mời gọi hiệp nhất yêu thương với Thiên Chúa. Sự hiệp nhất đó đánh dấu toàn bộ cuộc sống ở mọi chiều kích và mọi giây phút của nó. Trong truyền thống của chúng ta, dựa trên lời tiên báo của ngôn sức Êlia, chúng ta thường nói về việc “sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa”. Lối diễn tả này chỉ cho thấy mục tiêu chúng ta đang nhắm đến: toàn bộ cuộc sống của chúng ta là cầu nguyện, liên lỉ ở trước thánh nhan của Thiên Chúa.

  1. Lắng nghe Lời Chúa (HP 65)

Trong số những điều khác, việc liên tục lắng nghe Vị Khách trong nội tâm sẽ chuyển thành việc chú tâm đến Lời Chúa. Truyền thống Cát Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe, suy niệm và sống Lời Chúa. Chỉ cần nhớ lại lời mời gọi của Tu luật về việc “suy niệm đêm ngày luật của Chúa” (Tu luật 10) và lời chứng của tất cả các thánh Dòng Cát Minh, những người đã nhận ra tiếng nói của chính Chúa trong Kinh Thánh và trong kinh nguyện riêng là đã đủ.

  1. Cộng đoàn cầu nguyện (HP 56-61, 78)

Tương quan với Chúa không chỉ được sống trong cộng đoàn mà còn như một cộng đoàn, đặc biệt là trong việc cử hành phụng vụ. Mỗi cá nhân thành viên cần có sự đồng hành của anh chị em mình để trình diện trước Chúa như Giáo hội nói với Tình Quân của mình: “Xin hãy đến!” (Khải huyền 22:17). Đồng tế bí tích Thánh Thể là một biểu hiện đặc quyền của việc gặp gỡ cộng đoàn với Chúa. Ngoài ra còn cùng nhau cử hành lời cầu nguyện của Giáo hội trong các giờ kinh phụng vụ và cùng nhau thực hành tâm nguyện.

  1. Tâm nguyện (HP 64)

Chúng ta không thể duy trì tương quan cá nhân với Thiên Chúa và trung thành với đoàn sủng Tê-rê-xa nếu chúng ta không thực hành tâm nguyện. Với từng cá nhân và mỗi cộng đoàn, dành một thời gian cụ thể hàng ngày, tự do khỏi mọi vướng bận khác cũng như có một nơi thích hợp cho tâm nguyện là thiết yếu. Đây là đòi hỏi căn bản của ơi gọi của chúng ta mà nó luôn được tái khẳng định và canh tân, của sứ mạng của chúng ta trong Giáo hội và thế giới.

  1. Cô tịch và thinh lặng (HP 68)

Nhu cầu cô tịch và thinh lặng; nhu cầu “ở một mình thường xuyên với Đấng mà chúng ta biết yêu thương chúng ta” (Tự thuật 8, 5), là nhu cầu không thể bỏ qua với ơn gọi chiêm niệm. Cần phải để một khoảng lớn trống rỗng, cần dành một thời gian dài trong thinh lặng để cho sự hiện diện của Thiên Chúa chiếm lấy nó. Trong thời đại kỹ thuật số hôm nay, không phải sự cô tịch thể lý là điều khiến chúng ta sợ bị “mất kết nối”, mất kết nối với cái thứ linh hồn của thế giới (anima mundi) mà nay đã trở thành thế giới ảo của internet và các mạng xã hội. Mất kết nối (chứ không phải mất tương quan) khiến chúng ta đau khổ; nó buộc chúng ta phải đối diện với chính mình. Khi vắng thông tin, hình ảnh và liên lạc, thì sự trống rỗng của một thế giới nội tâm chưa được khám phá sẽ được mở ra, dù chưa được biết đến nhưng chắc chắn nó là của chúng ta và vì vậy nó sẽ gây phiền toái cho chúng ta.

  1. Sự từ bỏ (HP 25, 30, 33, 67)

Một trong những yếu tố được nhấn mạnh nhất trong truyền thống của chúng ta bắt đầu với thánh Tê-rê-xa Chúa Giê-su và thánh Gioan Thánh Giá, là sự từ bỏ như là một điều tuyệt đối cần thiết để được tự do và để có thể tìm thấy sự giàu có đích thật của chúng ta nơi Thiên Chúa và kinh nghiệm rằng “chỉ một mình Thiên Chúa là đủ”. Trên hết, sự từ bỏ phải là bên trong nhưng cũng còn là bên ngoài. Trong một xã hội hướng về chủ nghĩa tiêu thụ, tu sĩ chúng ta cũng dễ dàng bị cám dỗ chiếm hữu và sử dụng nhiều thứ và luôn luôn có những kinh nghiệm mới. Không có sự từ bỏ và một lối sống điều độ thì không thể sống đời sống chiêm niệm và cộng đoàn: “Cầu nguyện và sống thoải mái không đi đôi với nhau” (Đường hoàn thiện 4:2).

  1. Say mê Thiên Chúa

Hiệp thông với Thiên Chúa đem lại ý nghĩa và sức mạnh cho đời sống đoàn sủng của chúng ta. Cần phải vun trồng và nuôi dưỡng nó mỗi ngày để ngọn lửa tình yêu không bị dập tắt và đời sống không trở nên ảm đạm và nhàm chán. Sự nguội lạnh rõ ràng là một trong những mối nguy hiểm của tình trạng hiện nay của chúng ta, thường được ẩn sau hình thức chủ nghĩa hoạt động và đủ thứ những bận tâm luôn thay đổi. Chỉ có lòng nhiệt thành với Thiên Chúa được canh tân mới có thể bảo vệ chúng ta khỏi những nguy cơ như vậy.

      IV. B. Tình huynh đệ

  1. Cô tịch và tình huynh đệ

Có một cách cụ thể để hiểu và sống đời chiêm niệm theo thánh Tê-rê-xa. Tình bạn với Thiên Chúa là riêng tư, cá nhân (personal) nhưng hoàn toàn không mang tính chủ nghĩa cá nhân (individualistic). Chúng ta không thể sống nó một mình. Vì lý do đó, đoàn sủng Tê-rê-xa có một chiều kích cộng đoàn mạnh mẽ. Trong kinh nghiệm và giáo huấn của thánh Tê-rê-xa, tình huynh đệ với những niềm vui và lao nhọc của nó là một sự trợ giúp không thể thiếu để nhận ra ơn gọi của chúng ta là những bạn hữu của Thiên Chúa.

  1. Ẩn sĩ trong cộng đoàn (HP 11)

Thực ra, một mặt thánh Tê-rê-xa, trung thành với truyền thống cổ xưa của dòng Cát Minh, nhấn mạnh tầm quan trọng của một số chiều kích của lối sống ẩn tu (cô tịch, thinh lặng, và từ bỏ), mặt khác, thánh nữ cũng coi kinh nghiệm sống chung không kém phần thiết yếu. Sự quân bình giữa hai yếu tố này của đời sống chiêm niệm là nền tảng đối với Dòng Cát Minh Tê-rê-xa và chính sự căng thẳng giữa chúng làm giàu và thanh tẩy cho nhau. Thánh Tê-rê-xa đã muốn các nữ tu của mình “không chỉ là nữ tu mà còn là ẩn sĩ” (Đht 13:6) “muốn vui hưởng trong cô tịch Đấng Tình Quân của mình là Đức Giê-su Ki-tô” (Tstt 36:29) và luôn nhìn lên những ẩn sĩ thế hệ tiên khởi trên núi Cát Minh như là những mẫu gương (x. Ký sự 29:33; Đht 11:4; Lđnt 5:1:2). Đồng thời, thánh nữ loại trừ một đời sống thuần túy ẩn tu nơi các nữ tu của mình. “Lối sống huynh đệ” được thực hành trong các cộng đoàn của ngài, đặc biệt vào những giờ giải trí, là một yếu tố quan trọng của đời sống của họ mà thánh Tê-rê-xa đã muốn thánh Gioan Thánh Giá cũng biết và học hỏi (x. Ký sự 13:5).

  1. Những bạn hữu của những bạn hữu của Thiên Chúa

Đối với thánh Tê-rê-xa, tình bạn là phương tiện nền tảng để lớn lên trong tương quan của ngài với Thiên Chúa như ngài đã viết trong một đoạn trong Đường Hoàn Thiện: “Họ sẽ nói với chị em là nó không cần thiết, bởi vì có Chúa là đủ rồi. Nhưng để chiếm hữu Thiên Chúa, một phương thế tốt là nói với những người bạn của Ngài; chúng ta luôn nhận được ích lợi lớn lao từ điều này. Tôi biết từ kinh nghiệm của mình” (Đht 7:4). Theo quan điểm này, không thể tách tương quan với Thiên Chúa khỏi tương quan với những bạn hữu của Ngài. Thực ra một tương quan lành mạnh với tha nhân là một phương tiện không thể bỏ qua để làm cho một người lớn lên trong tương quan với Thiên Chúa và ngược lại. Làm suy yếu thực hành tương quan với anh em mình cũng là làm suy yếu đời sống hiệp thông với Thiên Chúa cũng giống như đánh mất hoặc làm giảm nhẹ chiều kích ẩn tu chắc chắn sẽ dẫn đến một lối tương quan với nhau mang tính thế tục hơn là tin mừng, mang tính xác thịt hơn là thiêng liêng.

  1. Một gia đình quanh Chúa Giê-su (HP 15e, 73)

Kinh nghiệm thần nhiệm về sự gần gũi của Chúa Giê-su và nhân tính cụ thể của Ngài đã khơi dậy trong thánh Tê-rê-xa nhu cầu xây dựng một cộng đoàn mới có thể đón nhận sự hiện diện của Ngài noi theo gương của gia đình Nazareth (Tstt 32:11), gia đình Bethany (Đht 17:5) và nhóm các tông đồ (Đht 27:6). Trong thực tế, đó là vấn đề xây dựng một gia đình mà cách hiện hữu và sống của nó được biến đổi và hóa thân nhờ sự hiện diện của Chúa ở giữa họ. Đã thực sự mất hàng thế kỷ để hiểu và hấp thụ sự mới mẻ của trực giác này. Tại trung tâm của nó là không phải “việc giữ luật thường xuyên” mà là kết cấu của các mối tương quan với Chúa Giê-su và với các anh chị em của chúng ta mà nó biến đổi chúng ta và đưa chúng ta lại với nhau trong sự hiệp nhất.

  1. Anh em của Đức Maria (HP 47, 127)

Trong Giáo hội chúng ta được nhận ra bởi cái tên “các anh em chân trần của Đức Maria”. Chúng ta là “anh em”, và vì vậy tình huynh đệ không phải là một yếu tố phụ mà là một yếu tố nền tảng. Đa số các anh em chúng ta cũng là linh mục và việc phục vụ của chúng ta chủ yếu là thừa tác. Một cách vô thức, điều này có thể dẫn đến việc làm lu mờ căn tính của chúng ta như là những tu sĩ Cát Minh Chân Trần hoặc chỉ được coi như là một điều kiện cho việc thụ phong linh mục. Việc thụ phong linh mục sau đó phải được tháp nhập vào căn tính tu sĩ của chúng ta. Bằng cách này nó sẽ làm phong phú căn tính chứ không thay thế căn tính. Chúng ta không gọi mình là “các cha”, nghĩa là, các linh mục sống tình huynh đệ, nhưng là anh em và anh em “chân trần” nghĩa là không có của cải và nguồn lực nào khác để trao cho thế giới ngoài tình huynh đệ liên kết chúng ta với Đức Maria và chúng ta với nhau. Cũng như tình huynh đệ, tương quan với Đức Maria không phải là một khía cạnh cụ thể hay sự sùng kính trong Dòng Cát Minh, nhưng nó diễn tả bản chất của ơn gọi của chúng ta. Có một thứ phản chiếu lẫn nhau giữa Đức Maria và cộng đoàn: một mặt Đức Maria là hình ảnh và mẫu gương của cộng đoàn, mặt khác cộng đoàn là hình ảnh của Đức Maria.

  1. Xây dựng cộng đoàn (HP 86)

Với đời tu trong Dòng Cát Minh Tê-rê-xa, xây dựng cộng đoàn là điều thiết yếu. Nếu chúng ta muốn là những tu sĩ Cát Minh, trước hết chúng ta phải là một thành phần của chính gia đình ấy. Xây dựng cộng đoàn là điều kiện để khởi đầu hành trình chiêm niệm mà thánh Tê-rê-xa đã nói đến (Đht 4:4). Trong Dòng Cát Minh, chính các lời khấn tìm được tất cả ý nghĩa của chúng bởi chúng giúp chúng ta sống đời sống huynh đệ dựa trên sự chấp nhận lẫn nhau, sự chia sẻ của cải và sự dấn thân cho đời sống chung đã được thống nhất. Một cộng đoàn Tê-rê-xa không phải là khi chúng ta ở với nhau để làm một điều gì khác nhưng là bởi vì ở với nhau vì tình yêu Đức Ki-tô tự nó là một giá trị. Là một gia đình không phải là một phương tiện để đạt một mục đích khác: cộng đoàn tự nó là mục đích. Đây phải là một điều kiện quan trọng để phân biện ơn gọi vào dòng Cát Minh Tê-rê-xa.

  1. Cộng đoàn và cá nhân (HP 72-73)

Cộng đoàn là một tập hợp của những con người khác nhau, mỗi người với một cách hiện hữu và cá tính của riêng mình không được giữ cho riêng mình nhưng được trao bao cho anh chị em của mình. Hiệp nhất không phải là đồng nhất; hiệp nhất không cào bằng những khác biệt nhưng đem chúng lại với nhau trong một sự căng thẳng làm phong phú và sinh hoa trái. Thật nguy hiểm nếu cộng đoàn đòi hỏi mỗi người hủy bỏ hoặc che đậy tất cả những gì làm cho người ấy là duy nhất và khác biệt với những người khác. Nó sẽ là một cộng đoàn được tổ chức bởi luật lệ chứ không phải bởi tình yêu. Trái lại, cộng đoàn Tê-rê-xa được mời gọi trở thành một nơi mà mỗi thành viên có thể kinh nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa bằng việc đón nhận các anh chị em của mình.

  1. Cộng đoàn giúp chúng ta thăng tiến (HP 85, 137)

Cộng đoàn là môi trường nơi đó mỗi người khích lệ nhau đáp trả tình yêu của Thiên Chúa. Ngay cả trước khi thành lập các cộng đoàn của mình, thánh Tê-rê-xa cùng với một nhóm nhỏ các nữ tu mà thánh nữ cùng chia sẻ những ước vọng, đã muốn “thỉnh thoảng qui tụ với nhau để giải thoát nhau khỏi sự ảo tưởng và để bàn với nhau làm sao họ có thể sửa đổi đời sống và làm vui lòng Chúa hơn” (Tstt 16:7). Điều này đòi hỏi người ta phải trải nghiệm các tương quan huynh đệ mà nơi đó sự thật về nhân tính, mức độ trưởng thành và nhu cầu lớn lên của người ấy được bộc lộ. Nó là vấn đề mở lòng mình ra với người khác với sự tin tưởng, để cho người khác đi vào cuộc sống riêng tư của mình và nhờ đó trở nên anh chị em của nhau. Để cộng đoàn thực sự trở thành một nơi của sự trưởng thành cá nhân, cần phải sống khiêm nhường, nghĩa là bước đi trong sự thật: phải minh bạch rõ ràng với anh em, bày tỏ chính con người thật của mình với những yếu đuối cũng như sự giàu có của riêng mình và để cho người khác giúp mình để biết mình và hòa giải với chính mình bằng tình yêu kiên nhẫn và tôn trọng.

  1. Cộng đoàn Tê-rê-xa đáp lại chủ nghĩa cá nhân

Tương quan với chính mình bao gồm suy tư, lắng nghe và liên tục đào sâu sự ý thức của mình chính là việc đi ngược lại với “nỗi ám ảnh về bản thân” hiện nay mà ở đó việc thiếu hiểu biết về sự thật về con người tương ứng với nỗi ám ảnh về hình ảnh của chính mình, về tình trạng sức khỏe và việc phát triển bản thân đã được định trước. Nó còn đi ngược với những kết quả của hai cách tương quan khác nhau với chính mình: một mặt là mở mình ra cho cộng đoàn, mặt khác là đóng mình trong chủ nghĩa cá nhân. Cộng đoàn Tê-rê-xa là một lời đáp trả nghiêm túc đối với chủ nghĩa cá nhân buông thả của xã hội hôm nay. Thứ chủ nghĩa đó dẫn đến việc sống trong cô lập và làm gia tăng sự bất mãn. Chúng ta nói về “chủ nghĩa độc thần của bản thân” như là đặc tính của thời đại của chúng ta. Ở đó mỗi người tự hỏi chính mình “Tôi là ai? Đối diện với điều này, thay vì hỏi như vậy thì Ki-tô giáo đề nghị người ta hỏi chính mình “Tôi hiện hữu cho ai? Và theo viễn kiến Cát Minh, chúng ta có thể thêm “Tôi hiện hữu với ai?”

  1. Giáo hội học của sự hiệp thông (HP 15e)

Ngoài ra, cộng đoàn Tê-rê-xa cũng còn là một sự diễn tả vinh dự về giáo hội học của Công đồng Vatican II dựa trên tính đồng hành (synodality) và linh đạo hiệp thông. Một trong những nhiệm vụ của đoàn sủng Cát Minh hôm nay là trở thành dấu chỉ cho Giáo hội về tầm quan trọng của sự hiệp thông và của việc sống thực sự như là thân thể của Đức Ki-tô, tất cả đều hiệp nhất với Ngài và với nhau.

  1. Một cộng đoàn có tổ chức (37-38, 78-80)

Lắng nghe lời Chúa trong Thánh Thần dẫn chúng ta đến sự vâng phục Thiên Chúa bằng việc chấp nhận hoàn toàn thánh ý của Ngài và sau đó được chuyển thành sự vâng phục của cộng đoàn. Cộng đoàn có tổ chức với những luật sống và bổn phận được giao cho mỗi người là một cách cụ thể để thoát khỏi sự ích kỷ cá nhân và sống mở lòng với Chúa mỗi ngày. Trong cộng đoàn, việc tìm kiếm thánh ý Chúa được thực hiện qua việc vâng phục các bề trên, các buổi họp cộng đoàn, việc kiểm điểm đời sống, sửa lỗi huynh đệ, và giải trí. Tất cả những điều này phải được phục hồi một cách sáng tạo theo cách phù hợp với sự nhạy cảm và điều kiện của thời đại của chúng ta.

  1. Vai trò của Bề trên (HP 39,143)

Cộng đoàn được hình thành bởi các anh em, nghĩa là bởi những con người ở cùng đẳng cấp với nhau. Đó là một cộng đoàn của những con người bình đẳng với nhau nhưng không phải là một cộng đoàn không có cái đầu: nó cần một bề trên, một người lãnh đạo có bổn phận chăm lo cho sự hiệp nhất của thân thể và sự thăng tiến của mỗi thành viên. Bổn phận của bề trên không chỉ đơn giản là “điều phối” hay “quản trị” đời sống và hoạt động của các thành viên của cộng đoàn để rồi họ thực hiện một cách trật tự nề nếp. Vai trò chính yếu của bề trên còn là xây dựng bình an, thêu dệt các mối tương quan và cổ vũ đời sống huynh đệ. Vì lý do đó, nền tảng của tương quan của ngài với tất cả phải là tình yêu theo tinh thần mà thánh Tê-rê-xa đã nói với các bề trên nữ của mình: “Hãy cố gắng để được yêu để rồi được vâng phục” (Hiến Pháp 1567, 34 [XI:1]).

  1. Những cộng đoàn nhỏ nhưng không quá nhỏ (HP 129)

Thánh Tê-rê-xa đã thành lập các cộng đoàn nhỏ đối lập với kinh nghiệm trước đây của mình về một con số nhiều nữ tu ở đan viện Nhập Thể. Mục tiêu là sống một đời sống huynh đệ đích thực, và một tình bạn giữa các nữ tu: “Trong nhà này, tất cả phải là bạn của nhau; tất cả phải được yêu thương, tất cả phải thương yêu nhau, tất cả phải giúp nhau” (Đht 4:7). Vì lý do này, thánh nữ đã chỉ ra con số tối đa các thành viên cho các cộng đoàn nữ tu của mình (con số đó giao động giữa 13 và 21). Trong hoàn cảnh hiện nay của các cộng đoàn của Dòng nam, có một xu hướng đối lập: ở những tỉnh dòng già hơn, số thành viên càng ngày càng ít đi vì sự giảm sút ơn gọi, và ở những tỉnh dòng trẻ hơn thì lý do nổi bật lại là các nhu cầu mục vụ. Vì vậy, mỗi cộng đoàn, đang khi phải đảm bảo có đủ số thành viên cần thiết, phải tìm những phương thế thích hợp để diễn tả chiều kích nền tảng cộng đoàn của đoàn sủng không chỉ về mặt pháp lý nhưng còn trong thực tế nữa.

  1. Một Dòng Ba Nhánh (HP 8, 11, 103)

Trong suốt lịch sử, Dòng Cát Minh Tê-rê-xa đã mở rộng dưới nhiều hình thức sống và bổ túc. Hình thức diễn tả tự nhiên và đầy đủ nhất được tìm thấy nơi ba nhánh của Dòng: Dòng nữ, dòng nam và dòng tại thế. Cả ba sống chung một đoàn sủng trong những cách khác nhau. Thực tế đa hình thức của gia đình Cát Minh – còn bao gồm các dòng tu và tu hội đời được tháp nhập – đòi buộc chúng ta đi vào trong một tương quan mật thiết giữa nữ tu sĩ, nam tu sĩ và giáo dân. Điều đó làm cho sự bổ túc giữa họ với nhau sinh hoa trái. Chia sẻ giữa các thành viên của ba nhánh với nhau là một nguồn khích lệ lẫn nhau và nguồn của một sức sống mới. Mặt khác, sự da dạng của các hình thức sống trong Dòng Cát Minh Tê-rê-xa giúp có thể phân biệt và làm nổi bật những cách thức cụ thể mà mỗi nhánh diễn tả đoàn sủng về tình bạn với Thiên Chúa: Dòng nữ trong lời cầu nguyện liên lỉ và từ bỏ theo Tin Mừng để phục vụ Chúa Ki-tô và Giáo hội, dòng nam trong một đời sống hòa quyện giữa cầu nguyện và hoạt động tông đồ, và dòng tại thế trong việc làm chứng ngôn sứ và trong việc dấn thân cho đời sống gia đình và công việc.

  1. Những tương quan mới

Cần có một cách mới để tương quan và giúp nhau nơi ba nhánh của Dòng. Không ai được cảm thấy hoặc có thái độ mình vượt trội, nổi trội hơn người khác, mỗi người phải sẵn sàng đóng góp tài sản của chính cuộc sống của mình và chấp nhận lời chứng và giáo huấn của những người khác để giúp nhau trung thành canh tân ơn gọi đã nhận được. Chúng ta nhận biết và muốn là anh chị em của nhau, bình đẳng về nhân phẩm và bổ túc cho nhau trong đoàn sủng và sứ mạng.

     IV. C. Sứ mạng

  1. Được gọi cho sứ mạng (HP 99)

Trong lịch sử cứu độ, ơn gọi luôn luôn đáp ứng cho sứ mạng. Sứ mạng không thuộc về trật tự của các hoạt động nhưng là một phần không thể thiếu của căn tính của người được gọi. Thật thích hợp cho sứ mạng Cát Minh để biểu lộ và thông truyền chính mình cho thế giới bằng cách đi vào trong số nhiều căn tính đoàn sủng đang làm cho Giáo Hội phong phú.

Sứ mạng của một gia đình dòng tu là duy nhất và thống nhất được nối kết mật thiết với địa vị ưu việt của việc tìm kiếm sự nên một với Thiên Chúa trong cầu nguyện. Từ nguồn mạch này công việc tông đồ và xã hội được Dòng thực hiện sẽ chiếu sáng trong nhiều hình thức và nơi nhiều quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên, cùng với công việc mục vụ nhằm phục vụ các Giáo hội địa phương, đến những vùng ngoại biên của thế giới đi qua những vùng truyền giáo nghèo khổ nhất, chúng ta được mời gọi vào việc đào sâu sứ mạng của chúng ta trong mối liên hệ với những thay đổi tiếp diễn ảnh hưởng đến toàn nhân loại.

  1. Sứ mạng của Dòng (HP 15d, 100)

Sứ mạng của Dòng Cát Minh Tê-rê-xa trong Giáo hội là sống và làm chứng cho tình bạn với Thiên Chúa. Chúng ta được mời gọi rao giảng những gì chúng ta đã thấy và đã nghe (x. 1 Ga 1:1-3), đồng hành với con người trên hành trình của đời sống nội tậm để tất cả có thể có kinh nghiệm cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương. Ngài là Đấng cư ngụ bên trong chúng ta và kêu gọi chúng ta đáp trả tình yêu của Ngài. Thiếu nền tảng này của kinh nghiệm được sống thì không thể có sứ mạng cụ thể của Dòng Cát Minh Tê-rê-xa.

  1. Chiều kích tông đồ của kinh nghiệm của thánh Tê-rê-xa (HP 6-7, 89)

Đoàn sủng Cát Minh có một thúc đẩy tông đồ, truyền giáo và phục vụ mạnh mẽ. Thánh Tê-rê-xa được đánh động bởi hoàn cảnh của các Ki-tô hữu ở Châu Âu cũng như tin tức về những người dân thổ cư ở Châu Mỹ. Ngài đã cảm thấy một khao khát mãnh liệt để đáp trả những nhu cầu của Giáo hội bằng tất cả sức lực của mình. Thậm chí ngài còn cảm nghiệm một khao khát tông đồ mạnh mẽ: “Tôi khẩn cầu Chúa xin Ngài cho tôi phương thế để thực hiện một điều gì đó để dành được các linh hồn để phục vụ Ngài” (Ký sự 1:7).

  1. Làm vui lòng Chúa

Khao khát tông đồ của thánh Tê-rê-xa luôn luôn tiếp cận tập trung vào Đức Ki-tô. Đó là khao khát “làm vui lòng Chúa trong mọi sự” và giúp “Chúa của tôi cách tốt nhất mà tôi có thể” (Đht 1:2). Thậm chí thánh Tê-rê-xa còn nói: “Tôi không có mục đích nào khác ngoài việc làm vui lòng Ngài” (Tstt 25:19). Một người bạn chân thực luôn luôn nỗ lực làm những gì bạn mình thích, cộng tác với người ấy trong cùng một dự phóng. Đi vào trong tương quan tình bạn với Thiên Chúa và cũng làm như thế với người khác nhằm giúp đỡ lẫn nhau sẽ kéo theo một hệ quả không thể tránh được là người ta phải luôn luôn sẵn sàng để người kia sai khiến: “Có lẽ chúng ta không biết tình yêu là gì. Không có gì ngạc nhiên với tôi bởi vì tình yêu không hệ tại ở sự vui thõa lớn lao nhưng ở việc khao khát cố gắng kiên trì làm vui lòng Chúa trong mọi sự” (Lđnt 4:1:7).

  1. Một sự dấn thân trọn đời (HP 87-88, 128)

Với người tu sĩ Cát Minh, sứ mạng trước hết được thể hiện nơi sự trung thành của mình đối với sự dấn thân vào đời sống tu trì trong cộng đoàn: “Tôi quyết tâm làm một chút trong khả năng của mình để giữ các lời khuyên tin mừng một cách hoàn hảo nhất như tôi có thể và nỗ lực giúp một ít chị em ở đây cũng sống như vậy” (Đht 1:2). Dòng Cát Minh, cũng giống như những hình thức đời tu khác, không nên được đánh giá dựa trên sự hữu dụng và tính hiệu quả của nó. Thay vào đó, chúng ta được mời gọi trở nên dấu chỉ và làm chứng cho Đức Ki-tô và Tin Mừng (x. Lumen Gentium 44). Nó không phải là việc làm nhiều hay ít nhưng là hoàn toàn hiến thân cho tình yêu của Đức Ki-tô. Điều này đòi hỏi chúng ta thay đổi từ chủ nghĩa hoạt động thành phục vụ, từ việc làm thõa mãn bản thân thành việc phục vụ tha nhân. Vì vậy, vấn đề không phải là ở con số nhưng là ở chất lượng của việc sống đoàn sủng và lời chứng đi kèm.

  1. Giá trị tông đồ của cầu nguyện (HP 15d)

Làm chứng cho đời sống chiêm niệm là việc phục vụ đầu tiên và quan trọng nhất của chúng ta đối với Giáo hội và nhân loại. Chính cầu nguyện có sức mạnh biến đổi thế giới và con người. Nó thực hiện điều đó một cách âm thầm khiến chúng ta không nhận ra nó xảy ra thế nào. Việc cầu nguyện hằng ngày của chúng ta có tính tông đồ và giáo hội chứ không chỉ cá nhân hay riêng tư như nhiều mẫu gương của truyền thống kinh thánh và lịch sử Cát Minh đã nhắc nhở chúng ta.

  1. Công việc muôn hình vạn trạng của Giáo hội (HP 91-93, 98)

Sứ mạng của chúng ta phát triển qua công việc cụ thể mà Chúa Ki-tô và Giáo hội cần ở mọi nơi và mọi thời. Chúng ta mở ra cho mọi sự dấn thân mà qua đó chúng ta có thể diễn tả, phát triển và thông truyền kinh nghiệm của chúng ta về Thiên Chúa, đặc biệt những dấn thân mà Giáo hội địa phương nơi chúng ta tháp nhập đòi hỏi chúng ta. Có nhiều hoạt động khác nhau của Giáo hội phù hợp với lối sống của chúng ta, nhưng không phải mọi cách thực hiện chúng đều phù hợp với đoàn sủng của chúng ta.

  1. Mục vụ về linh đạo (HP 100-101)

Trong việc phục vụ mục vụ của chúng ta, khao khát dẫn đưa người khác đến kinh nghiệm sâu xa hơn trong tương quan với Thiên Chúa phải chiếm một chỗ ưu việt. Trước hết, chúng ta đạt được điều này nhờ giải tội, linh hướng, và nhờ những hoạt động cụ thể, chẳng hạn như việc dẫn vào cầu nguyện và mục vụ linh đạo, ngoài ra còn nhờ đưa dấu ấn Cát Minh vào những dấn thân khác mà chúng ta thực hiện trong Giáo hội. Theo nghĩa này, một cách cụ thể có thể là việc tiếp đón người khác vào các cộng đoàn của chúng ta để chia sẻ cuộc sống của chúng ta với họ và nói với họ bằng chính đời sống và chứng tá của chúng ta hơn là bằng lời rao giảng.

  1. Sứ mạng đến với muôn dân (HP 94)

Hoạt động truyền giáo đã có ở trong đời sống của Dòng một cách mạnh mẽ và rõ ràng qua nhiều thế kỷ. Tinh thần truyền giáo vẫn là nền tảng cho chúng ta và không thể nào bị mất đi. Trong bối cảnh hiện nay, nó phải được mở rộng đến những thực tại khác của thế giới của chúng ta và phải bao gồm việc tái truyền giáo cần thiết cho những vùng mà cho đến gần đây đa số vẫn là Ki-tô giáo nhưng hiện nay thì không còn như vậy nữa. Mặt khác, chúng ta ý thức rõ ràng rằng truyền giáo được thực hiện không quá nhiều nhờ vào những gì chúng ta làm, nhưng bởi chúng ta là; chính yếu thì đó là vấn đề của hiện hữu hơn là của hành động. Nó tuôn trào từ việc gặp gỡ cá nhân với Đức Giê-su Ki-tô là Đấng kêu gọi chúng ta ở với Ngài và đồng hành với Ngài trong sứ mạng liên tục trong thế giới.

  1. Lưu tâm đến thế giới hôm nay (HP 90)

Nếu thánh Tê-rê-xa đã đặc biệt lưu tâm đến thực tế của thời đại của ngài, thì chúng ta là những người được mời gọi sống đoàn sủng của ngài hôm nay cũng phải suy xét những nhu cầu của thời đại của chúng ta. Chúng ta không thể vô cảm với những nhu cầu mà nhân loại đang chịu đau khổ hôm nay, và chúng ta cảm thấy được gọi để cộng tác trong hoạt động rao giảng Tin Mừng của Giáo hội, ngay cả trong những cách đơn sơ hằng ngày của đời sống của chúng ta. Sự hiện diện của chúng ta như những tu sĩ Cát Minh cũng có thể thiết yếu ở những lĩnh vực thích hợp hôm nay như là đối loại đại kết, đối thoại liên tôn, tranh đấu cho công lý và hòa bình, đối thoại giữa đức tin và khoa học, các phương tiện truyền thông xã hội và dấn thân vì môi trường.

  1. Phân biện cộng đoàn về sứ mạng (HP 37)

Trước sự đa dạng của các cam kết có thể và nhiều nhu cầu của Giáo hội và nhân loại, và vì chúng ta có ít nguồn lực nên hơn bao giờ hết chúng ta cần cùng nhau phân biện tốt về những dấn thân sẽ thực hiện để chúng phù hợp với đoàn sủng mà Thiên Chúa đã ủy thác cho chúng ta và với những gì Giáo hội mong chờ nơi chúng ta. Thánh Gioan Thánh Giá đã tự hỏi mình: “Có ý nghĩa gì với bạn khi bạn cho Chúa một điều đang lúc đó Ngài lại đòi hỏi bạn một điều khác?” (Châm ngôn, 73).

  1. Tính cộng đoàn của việc tông đồ (HP 15e)

Mỗi chúng ta được gọi tham gia vào sứ mạng của Dòng bằng sự cộng tác của riêng mình. Thông thường việc phục vụ Đức Ki-tô và Giáo hội của chúng ta được thể hiện ở những cam kết mà cộng đoàn đảm nhận và thực hiện cùng với sự cộng tác phối hợp của các thành viên. Mỗi cá nhân tu sĩ cũng có thể thi hành bổn phận cá nhân tùy theo những phẩm tính và khả năng của riêng mình nhưng luôn có sự đồng ý và phân biện của cộng đoàn và thi hành điều đó như là thành viên của cộng đoàn. Thực ra, những quà tặng của Chúa Thánh Thần mỗi người lãnh nhận luôn luôn “vì ích chung” (x. 1 Cor 12:7) vì biết rằng chúng ta là “thân thể của Đức Ki-tô và mỗi người là các bộ phận tùy theo phận vụ của mình” (1 Cor 12:27).

  1. Việc tông đồ được chia sẻ giữa dòng nam – dòng nữ – dòng tại thế (HP 102-103)

Những người thụ hưởng chiều kích tông đồ của đời sống của chúng ta trước hết chính là những người trong chính gia đình Cát Minh Tê-rê-xa. Dấn thân cho việc tông đồ dưới nhiều hình thức (cầu nguyện, làm chứng, giảng thuyết, đồng hành thiêng liêng, giáo dục, xuất bản in ấn) trước kết được hướng đến các anh chị em nam nữ tu sĩ và giáo dân của Dòng. Mặt khác, gia đình chúng ta có thể làm chứng và thi hành việc tông đồ của mình một cách hiệu quả hơn nhờ sự cộng tác chủ động của các thành viên của cả ba nhánh tùy theo đời sống của mỗi nhánh.

      IV. D. Sự thống nhất của cầu nguyện – tình huynh đệ – sứ mạng (HP 15b, d, e)

  1. Ba khía cạnh của một thực tại không thể tách biệt

Đoàn sủng Tê-rê-xa có ba yếu tố nền tảng: cầu nguyện, tình huynh đệ và sứ mạng. Tuy nhiên, điều làm nên đặc tính của chúng ta là cả ba khía cạnh về bản chất được kết nối với nhau, quan hệ chặt chẽ và nếu độc lập với nhau thì vô nghĩa.

  1. Ba yếu tố nuôi dưỡng cho nhau

Thực ra, chúng ta không thể sống tương quan tình bạn với Chúa mà không có tương quan huynh đệ đích thực trong cộng đoàn và không có dấn thân tông đồ để thực hiện ý Chúa. Đời sống cộng đoàn sẽ không có ý nghĩa nếu Đức Ki-tô không ở trung tâm và nếu nó không dẫn đến việc làm chứng và phục vụ Ngài và Giáo hội của Ngài. Hoạt động tông đồ trở thành một bận tâm thế tục nếu nó không bắt nguồn từ một tương quan yêu thương với Thiên Chúa và không được sống để bày tỏ sự dấn thân cho cộng đoàn và việc phân biện.

  1. Nuôi dưỡng sự hòa hợp

Một trong những thách đố cho hiện tại và tương lai của Dòng không chỉ là thăng tiến và đào sâu mỗi ngày về đời sống cầu nguyện, huynh đệ và phục vụ nhưng còn là thiết lập và thực hành một liên hệ sâu xa và chặt chẽ giữa các yếu tố đó.

V. Hiệp nhất và đa dạng

   61. Một sự đa dạng và hài hòa sáng tạo (HP 151)

Trong thời gian gần đây, Dòng đã thực sự trở nên mới mẻ và phổ quát. Nhiều cách sống đoàn sủng khác nhau đã được phát triển và dần dần đang được hội nhập và thích ứng với nhiều nơi và dân tộc khác nhau. Các chọn lựa khác nhau về tương quan cộng đoàn, dấn thân tông đồ, và cách cầu nguyện đã được thực hiện. Điều này cho thấy vẻ đẹp muôn mặt của đoàn sủng và nó không phải là một thực tại tĩnh và đơn nhất. Tuy nhiên, không phải sự đa dạng nào cũng tích cực và phong phú. Nó chỉ tích cực và phong phú khi nó hài hòa và thống nhất, khi nó gắn bó chặt chẽ với cái tổng thể bởi vì một viên gạch tách khỏi một bức tranh nghệ thuật mosaic sẽ trở nên vô nghĩa. Một trong các nhu cầu hiện nay là phải đảm bảo rằng sự đa dạng trong Dòng được sống với “một trái tim và một linh hồn” (Cv 4:32).

  1. Đoàn sủng và hội nhập văn hóa

Tin Mừng chỉ có thể được sống khi được hội nhập, nghĩa là nhập thể nó vào một môi trường văn hóa xã hội cụ thể. Điều đó cũng có thể được áp dụng đối với một hình thức sống cụ thể của đời sống Ki-tô hữu là Dòng Cát Minh Tê-rê-xa. Ở những vùng khác nhau của thế giới, đoàn sủng của chúng ta tiếp xúc với các nền văn hóa của nhân loại. Đoàn sủng và văn hóa có thể đối thoại với nhau nhằm mục đích làm giàu và sinh hoa trái cho nhau. Luôn cần có một sự phân biện có tính phê bình để quyết định những yếu tố nào của các truyền thống của các dân tộc khác nhau phù hợp với đời sống và căn tính của Dòng Cát Minh Tê-rê-xa.

  1. Mở rộng Dòng

Điều kiện đầu tiên và căn bản để gieo đời sống Cát Minh vào một vùng mới chính là thực sự sở hữu một sự tinh thông về đoàn sủng không chỉ nhờ phương tiện lý thuyết và suy tư nhưng trên hết nhờ sự hấp thụ và kinh nghiệm sống cá nhân. Chỉ có bằng việc khởi khi từ một sự hiểu biết sâu xa về lý tưởng Cát Minh Tê-rê-xa và từ một sự đồng hóa cá nhân với lý tưởng ấy, đời sống Cát Minh mới được truyền lại một cách hiệu quả. Vì vậy để mở rộng Dòng, chúng ta cần tập trung vào chất lượng sống đoàn sủng của các anh em đi truyền giáo và đời sống chứng tá lôi cuốn của họ hơn là thực hiện những công việc bề ngoài dù chúng có hữu ích cho sự phát triển con người và xã hội thế nào đi nữa. Cũng vậy, về việc tiếp nhận các ơn gọi tương lai, cần loại bỏ sự bận tâm đến việc phát triển số lượng và trên hết phải đảm bảo các ứng sinh có thiên hướng đối với lối sống của chúng ta và chúng ta có khả năng giúp họ phân biện tốt và đồng hành với họ trong tiến trình đào tạo.

  1. Phân biện về hội nhập văn hóa

Hiệp thông với Dòng là một tiêu chí nền tảng cho sự hội nhập thỏa đáng. Việc tiếp nhận các lối sống mới hoặc những thực hành phụng vụ, mục vụ, v.v. ở một vùng cụ thể nào đó phải được quyết định từ sự hiệp thông với toàn Dòng, với các giá trị của đoàn sủng và một sự hiểu biết khách quan về tình trạng văn hóa của vùng đó nhờ sự đối thoại và phân biện trước được chia sẻ với các thành viên khác của gia đình Cát Minh.

  1. Một Dòng gồm nhiều Tỉnh dòng (HP 146)

Các tu sĩ của Dòng chúng ta sống trong cộng đoàn. Các cộng đoàn thường nhóm lại với nhau làm thành các tỉnh dòng. Theo truyền thống từ ban đầu một tỉnh dòng bao gồm đủ số cộng đoàn và tu sĩ để bảo đảm sự tự trị của nó về mặt quản trị, đào tạo và tài chính. Mỗi tỉnh dòng có ranh giới của mình được định rõ nhằm mục đích thăng tiến một tương quan hiểu biết nhau, huynh đệ và cộng tác giữa các tu sĩ thành viên làm nên một gia đình và để linh hoạt việc tổ chức nội bộ. Cũng có thể có những địa hạt khác nhỏ hơn nhưng thường là ngoại lệ và chỉ tạm thời.

  1. Các tỉnh dòng trong thời đại thay đổi (HP 145)

Trong thời kỳ thay đổi nhanh chóng như thời của chúng ta ngày nay, Dòng cũng kinh nghiệm những hoàn cảnh mới và những thay đổi. Ở một số vùng con số tu sĩ giảm sút rất đáng kể đang khi đó ở những vùng khác thì lại phát triển nhanh chóng. Những điều này và những hiện tượng khác đòi chúng ta phải hành động đưa ra những quyết định phù hợp và thức thời. Chúng là kết quả của sự phân biện cẩn thận dưới ánh sáng của đoàn sủng. Tỉnh dòng và các cơ cấu khác phải thích nghi với những hoàn cảnh hiện nay để chúng ta có thể tiếp tục cổ võ các giá trị nền tảng của Dòng. Tiêu chí nền tảng không phải chỉ duy trì sự hiện diện của chúng ta nhưng là bảo vệ và làm sống lại gia sản thiêng liêng của Dòng Cát Minh Tê-rê-xa. Trong nhiều trường hợp, tháp nhập các địa hạt, thay đổi tình trạng pháp lý và giới hạn địa lý của chúng, và trong mọi hoàn cảnh gia tăng sự cộng tác giữa các tỉnh dòng với nhau ở mọi nơi bắt đầu với việc đào tạo và cổ võ ơn gọi, là cần thiết và tích cực.

  1. Các tỉnh dòng và tính lãnh thổ (HP 144)

Gần đây, sự hiện diện của của các cộng đoàn và tu sĩ từ một tỉnh dòng trong lãnh thổ của một tỉnh dòng khác đã và đang gia tăng. Một số tỉnh dòng có các cộng đoàn ở những vùng khác nhau trên thế giới, ở những nơi rất xa nhau. Đây là một thực hành mới với chúng ta. Thực hành này xưa nay là của các dòng tu hoạt động tông đồ có cơ cấu tập trung. Một mặt khi suy xét về thực tế này chúng ta cần lưu ý đến sự linh hoạt cần thiết để thúc đẩy hoạt động truyền giáo và giúp nhau giữa các tỉnh dòng, mặt khác cũng cần bảo vệ những khía cạnh thiết yếu của đời sống của tỉnh dòng. Đó là không được đánh mất sự gắn bó, tinh thần gia đình, khả năng của các tương quan, và sự cộng tác giữa các thành viên.

  1. Cảm thức thuộc về Dòng (HP 143)

Chúng ta cùng nhau làm nên một gia đình Cát Minh Tê-rê-xa được chia thành các tỉnh dòng và cộng đoàn. Chúng ta phải nuôi dưỡng cảm thức thuộc về Dòng và sự hiệp thông sâu xa ở trong Dòng. Mỗi người phải cảm nhận như chính kinh nghiệm của riêng mình những nhu cầu, niềm vui, và nỗi khổ của người khác và tìm cách đóng góp mưu ích cho tất cả bằng dấn thân cầu nguyện, sống tình huynh đệ và phục vụ vì thiện ích của tất cả. Cần phải cũng cố sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau ở mọi cấp bậc, cổ vũ những sáng kiến của việc cộng tác liên tỉnh dòng, lưu ý đến các nhu cầu của Dòng, tin tưởng lẫn nhau giữa ban quản trị của địa phương, của tỉnh dòng và trung ương dòng, và đặc biệt các tu sĩ luôn sẵn sàng phục vụ khi lợi ích của Dòng đòi buộc.

Kết luận: Từ bản văn đến hành động

Mục tiêu sau cùng của bản Tuyên Ngôn này không chỉ là viết lại những yếu tố thiết yếu của căn tính của chúng ta dưới ánh sáng của bối cảnh lịch sử chúng ta đang sống nhưng còn bắt đầu những con đường cho phép chúng ta đi từ lý thuyết đến kinh nghiệm, từ lời nói đến hành động. Mỗi địa hạt của Dòng cũng như mỗi cộng đoàn và mỗi cá nhân tu sĩ phải dấn thân cầu nguyện và suy tư và sau đó quyết định về những cách thức cụ thể thực hành bản văn và tinh thần của tài liệu này để giúp nhau sống đời sống như những tu sĩ Cát Minh Chân Trần hôm nay. Các tu nghị tỉnh dòng sẽ là nơi phù hợp nhất để lượng định và đưa ra các quyết định, những đề nghị và gợi ý nhờ đọc và suy niệm bản Tuyên Ngôn này. Một cách cụ thể, Cha Tổng quyền và Hội Đồng Giám Định sẽ theo dõi quá trình áp dụng thực tế sinh hoa trái của Tuyên Ngôn Đoàn sủng này.

Tuyên Ngôn Đoàn Sủng Dòng Cát Minh Tê-rê-xa 2021

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *