Lá Thư Của Cha Tổng Quyền Về Việc Áp Dụng Huấn Thị Cor Orans

Lá Thư Của Cha Tổng Quyền Về Việc Áp Dụng Huấn Thị Cor Orans

Hôm thứ Ba 15/5/2018, tại Vatican, Toà thánh đã giới thiệu Huấn thị về đời sống của các nữ tu chiêm niệm.

Huấn thị mang tên “Cor Orans – Tâm hồn cầu nguyện” gồm những hướng dẫn để áp dụng Tông hiến năm 2016 của Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành năm 2016 “Vultum Dei Quaerere – Tìm kiếm tôn nhan Thiên Chúa”, dành cho các nữ tu trong các cộng đoàn sống chiêm niệm.

Tông hiến của Đức Thánh Cha kêu gọi thực hiện những thay đổi trong 12 lĩnh vực, từ đời sống cầu nguyện đến tập quán làm việc.

Cor Orans ” được giới thiệu trong một cuộc họp báo tại Toà Thánh dưới sự chủ trì của Đức Tổng giám mục José Rodriguez Carballo, Thư ký Bộ Đời sống thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ (Bộ Tu sĩ), cùng với cha Sebastiano Paciolla, Phụ tá Thư ký của Bộ.

Huấn thị ghi nhận rằng trên thế giới ngày nay có khoảng 38.000 nữ tu sống đời chiêm niệm, và vì thế, nội dung của văn kiện mới này rất hữu ích không chỉ cho Giáo hội và cho các nữ tu mà còn cho cả xã hội nói chung. Đức Tổng giám mục Rodriguez Caballo giải thích rằng Huấn thị muốn “làm sáng tỏ các khoản luật, khai triển và xác định các thủ tục để thi hành luật”.

Huấn thị đề ra các hướng dẫn chính xác về tất cả các khía cạnh thực tiễn, quản trị, luật pháp và thiêng liêng liên quan đến việc thành lập và điều hành các đan viện nữ chiêm niệm.

Những hướng dẫn này bao gồm các quy định chi tiết về quyền tự chủ của các đan viện, việc thành lập đan viện, việc chuyển giao và giải thể, việc cần thiết phải có sự giám sát của Giáo hội, tương quan với Giám mục giáo phận, các điều luật và quy định liên quan đến “việc tách biệt khỏi thếgian”, các phương tiện truyền thông, các hình thức khác nhau của tu viện bao gồm “nội vi giáo hoàng” và việc huấn luyện…

(Vatican News, 15/5/2018)

Minh Đức

Bên dưới là nguyên văn lá thư của Cha Tổng Quyền gởi các đan nữ Cát Minh về việc áp dụng Huấn thị “Cor Orans”:

Bản tiếng Việt được chuyển ngữ bởi một nữ đan sĩ tại đan viện Cát Minh Sài Gòn

Nội dung

  1. Sự diễn đạt chính xác quy tắc nền tảng
  2. Liên Hiệp

2.1 Về chính Liên Hiệp

2.2 Chủ tịch Liên Hiệp

2.3 Cố vấn và các chức vụ khác trong Liên Hiệp

  1. Đan viện

3.1 Khái niệm quyền tự trị

3.2 Sự mở rộng các năng quyền trong việc quản lý nội bộ cộng đoàn.

  1. Việc đào tạo
  2. Kết luận

 

 

LÁ THƯ CHA TỔNG QUYỀN GỬI CÁC NỮ ĐAN SĨ CÁT MINH TÊRÊXA VỀ
HUẤN THỊ COR ORANS

 

Chị em Cát Minh rất thân mến,

Huấn Thị mà chúng ta mong đợi, áp dụng chỉ thị Tông Hiến Vultum Dei Quaerere (VDQ) về đời sống của các nữ tu chiêm niệm đã được ban hành vào ngày 15 tháng 5 vừa qua. Như các chị em đã biết, đó là một văn kiện sâu sắc và súc tích (bao quát và cô đọng), đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng và thấu hiểu (hấp thụ), rồi đem ra thực hành. Với lá thư này, tôi ước ao đồng hành với chị em trên con đường canh tân mà ngày nay Giáo Hội yêu cầu chị em thực hiện, nhưng cách gián tiếp cũng yêu cầu chúng tôi, những nam đan sĩ, và toàn Dòng chúng ta.

Mặc dù có sự khác biệt hiển nhiên về văn phong và ngôn ngữ giữa Tông Hiến và Huấn Thị, tuy nhiên điều quan trọng trước nhất là phải nhấn mạnh sự thống nhất hiện có giữa cả hai văn kiện. Huấn Thị tập trung vào 4 trong 12 khía cạnh của các nữ tu sống đời chiêm niệm, được trình bày trong VDQ: quyền tự trị của các đan viện, các Liên Hiệp, sự tách biệt khỏi thế gian, và việc đào tạo. Một tiêu chuẩn mới và chi tiết được thiết lập cho từng khía cạnh trên. Tiêu chuẩn mới và chi tiết này điều chỉnh không phải chỉ trong một vài điểm những điều cho đến nay vẫn còn hiệu lực. Điều làm nên sự căn bản thống nhất của 2 văn kiện đó là ý hướng để đối diện cách thực tiễn những vấn đề hiện nay về đời sống chiêm niệm của các nữ đan sĩ, nhận ra vai trò chủ động nơi các chị trong việc phân định và trong việc gánh vác trách nhiệm của mình trước những vấn đề đó. Chặng đường canh tân đã bắt đầu từ năm 1950 với Tông Hiến Sponsa Christi, lần đầu tiên chấp thuận tính tự trị pháp lý của mỗi đan viện các nữ tu chiêm niệm và thiết lập Liên Hiệp các đan viện. Cuộc canh tân ấy vẫn tiếp tục và được củng cố bởi 2 văn kiện đã được phê chuẩn bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Về điều này, một cách rất phù hợp, Huấn Thị khẳng định rằng Tông Hiến Vultum Dei Quaerere “không có ý bãi bỏ Tông Hiến Sponsa Christi Ecclesia, mà chỉ sửa đổi về một vài điểm. Vì thế, hai văn kiện giáo hoàng được xem như quy phạm có hiệu lực đối với các nữ đan viện và phải được đọc trong một cái nhìn thống nhất.” (CO, phần giới thiệu.)

  1. Sự diễn đạt chính xác quy tắc nền tảng

Sau một quãng thời gian khá lâu gần 70 năm kể từ khi Tông Hiến Sponsa Christi được công bố, việc chỉnh sửa lại hai điều đổi mới được quy định trong Tông Hiến ấy là cần thiết, và đó là tình trạng pháp lý của các đan viện (vì mỗi đan viện là sui juris/tự trị và Bề trên đan viện là Bề trên cao cấp) và các thẩm quyền được quy về các Liên Hiệp và Hiệp hội các đan viện,[1] nhằm liên kết chúng và đem lại sự phát triển trọn vẹn. Trong thực tế, kinh nghiệm cho thấy những giới hạn và tiềm năng của cả hai. Quyền tự trị pháp lý, tự nó là điều kiện pháp lý của một cộng đoàn chiêm niệm trong tình trạng lành mạnh, nhưng nó có thể trở thành chướng ngại hay mối nguy hiểm khi nó được sử dụng như phương tiện để tự khép kín khỏi các mối tương quan với các đan viện khác hay với các chi thể khác của Giáo Hội, vốn được kêu gọi để gìn giữ trông coi cộng đoàn. Về phía các Liên Hiệp, họ cũng được tạo nên như một phương tiện có giá trị cho đời sống các đan viện, như một nhân tố kích thích cho sự trưởng thành của các đan viện, một sự trợ giúp trong việc phân định và trong việc tìm các giải pháp cho các vấn nạn. Tuy nhiên (ngoài một số không phải là không nhỏ các đan viện trong Dòng chúng ta chưa gia nhập)[2], không phải không thường xuyên xảy ra tình trạng các Liên Hiệp còn yếu hay chậm tiến chưa tận dụng các cơ hội được đem lại từ cơ cấu hiệp thông này, và thậm chí còn cho rằng điều đó là vô ích hay là một sự phức tạp phiền toái. Sở dĩ có điểm hạn chế này là một phần cũng bởi vì gần như không có những nghĩa vụ pháp lý khi trở thành một thành viên của Liên Hiệp.

Một cách ngắn gọn, mối nguy cơ có thể nhận thấy đó là đan viện chiêm niệm sẽ tự tách biệt và khép kín, đặc biệt trong những tình huống hay trong những khía cạnh mà cần phải có ngay một cái nhìn khách quan và sự đồng hành huynh đệ từ những người ở bên ngoài thực tại của đan viện. Việc chỉ phụ thuộc Tòa Thánh về mặt pháp lý xác định một sự thiếu vắng về những liên hệ trực tiếp mà thực ra rất hữu hiệu. Trong sự thiếu vắng này, và thường tệ thêm do thiếu đào tạo, có những nguy cơ của tình trạng ù lì mà có thể làm tổn hại đến căn tình đích thực và chứng từ của một cộng đoàn chiêm niệm. Nếu điều này là mối nguy hại nghiêm trọng nhất mà những quy tắc trước đó đã trình bày, thì rõ ràng điều mới mẻ quan trọng nhất, được giới thiệu trong Huấn Thị Cor Orans, quan tâm một cách thích đáng đến các Liên Hiệp, mà vai trò của chúng đã được tái khẳng định và củng cố. Mặc dù tình trạng pháp lý của các Liên Hiệp không thay đổi, chúng vẫn giữ nguyên như vốn có, tức là “những cơ cấu hiệp thông giữa các đan viện có chung đặc sủng nhờ đó các đan viện không ở trong tình trạng cô lập” (VDQ 30; cf.CO 86); tuy nhiên, sự mở rộng về quyền hạn của Chủ tịch và Ban Cố vấn của Liên Hiệp cho thấy những cơ cấu này được định hình như những thể chế trung gian giữa cá nhân đan viện tự trị và với Thánh bộ. Sự thay đổi này không nhằm đặt vấn đề về quyền tự trị pháp lý của cá nhân đan viện, và quyền này cũng được tái khẳng định. Điều mà Tông Hiến và Huấn Thị nhắm tới là tái định vị cá nhân đan viện trong tương quan giữa các đan viện để phát huy chiều kích hiệp thông và Giáo Hội tính của các cộng đoàn chiêm niệm[3]. Để hình dung, chúng ta có thể nói rằng sự lệ thuộc hàng dọc của đan viện đối với bề trên trực tiếp và với Tòa Thánh được phong phú hóa và quân bình bởi sự tùy thuộc hàng ngang với một “Cộng đoàn các đan viện” chia sẻ chung một đặc sủng, mà mỗi đan viện với những phương thức độc đáo của riêng mình.

Về phần mình, tôi nhận thấy nhãn quan này về một cộng đoàn chiêm niệm như một chi thể trong một thân thể lớn hơn, như một gia đình và một chủ thể đồng trách nhiệm trong sứ vụ chung trong Giáo Hội, là hoàn toàn phù hợp với ý định của Mẹ Têrêsa chúng ta. Tôi sẽ tự giới hạn để trích dẫn số 103 trong Hiến Pháp của chị em:

Các cộng đoàn được thiết lập trên tình huynh đệ Ki-tô giáo không được tự khép kín, nhưng theo tinh thần của Mẹ Thánh Têrêsa, phải biểu lộ và khuyến khích cách cụ thể sự hiệp thông với những đan viện khác và toàn Dòng.

Nhờ sự hiệp nhất trong bác ái, tất cả các anh chị em trong Dòng Cát Minh Têrêsa cùng thuộc về một gia đình của Đức Trinh Nữ Maria, phải cụ thể giúp đỡ nhau bằng lời cầu nguyện, bằng gương sáng và sự hợp tác, để cho tất cả cùng nhau góp phần vào việc mưu ích cho Hội Thánh và cho Dòng.

Tầm quan trọng, không chỉ về mặt tâm linh nhưng còn về mặt “cơ cấu” của những tuyên bố trên hôm nay tỏ hiện rõ ràng hơn trong ánh sáng từ những văn kiện giáo hoàng mới. Bản văn Tông Hiến cũng liên hệ tới điều Thánh Têrêsa viết cho con cái ngài ở đan viện tại Valladoid trong lá thư ngày 31 tháng 5, 1579: “Đây là lý do tại sao chúng ta mang chung một tu phục, để chúng ta có thể giúp đỡ lẫn nhau, vì cái thuộc về một người cũng thuộc về mọi người. Và ai cho đi tất cả, người ấy cho đi nhiều nhất.”[4]

Rõ ràng trong cái nhìn của Thánh Têrêsa có một sự hiệp nhất nền tảng mà dấu chỉ hữu hình là bộ tu phục, nhưng cũng là một “kiểu tình huynh đệ” đặc biệt (KS TLĐV 13:5), đến trước hết và vượt trên mọi khác biệt và quyền tự trị của mỗi nhà. Đây cũng là lý do tại sao Thánh Têrêsa mong muốn sự hiệp nhất nền tảng của Dòng, từ quan điểm tâm linh và pháp lý, được mô tả và bảo đảm bằng hình ảnh một người đứng đầu trong gia đình (MV 4), người “có nhiệm vụ thăng tiến sự hiệp nhất trong đức tin đến một lý tưởng chiêm niệm đầy Giáo hội tính, thiết lập bởi Thánh Têrêsa Chúa Giêsu, và có nhiệm vụ củng cố tình hiệp thông giữa các đan viện và với toàn Dòng” (C 200). Thành thực mà nói, khía cạnh hiệp nhất giữa nhánh nam và nhánh nữ trong cùng một gia đình Dòng Tu, không được khai triển bởi Huấn Thị mới, tuy nhiên, Huấn Thị này chỉ lặp lại những điều đã được khẳng định bởi VDQ Điều 9 triệt 4: “Sự liên kết của các đan viện nữ với các Dòng nam tương ứng, ngay cả trên bình diện pháp lý, là điều đáng được khích lệ, càng nhiều càng tốt, để bảo vệ căn tính của gia đình đoàn sủng” (CO 79). Tất nhiên, việc một đề tài không được khai triển không có nghĩa rằng nó bị loại trừ hoặc bỏ quên. Đối với tôi, thật hữu lý khi các hình thức hiệp thông và cộng tác giữa hai nhánh của Dòng nên được chú ý đến cách thích đáng hơn trong cùng một gia đình đoàn sủng, hơn là trong một văn kiện chỉ hướng đến tất cả các đan nữ một cách không phân biệt.[5]

Giờ đây tôi muốn đi sâu hơn vào chi tiết của một vài điểm trong Huấn Thị, các điểm trình bày những thay đổi quan trọng trong bộ luật và thực hành mà các nữ đan sĩ Cát Minh chân không áp dụng trong bốn lãnh vực được nêu lên trong Cor Orans. Tôi sẽ không theo thứ tự các chương trong Huấn Thị, nhưng tôi sẽ cố gắng tiếp cận theo cách mà đối với tôi, đó là lược đồ hợp lý cho các điều ưu tiên.

  1. Liên Hiệp

Tôi sẽ bắt đầu từ Liên Hiệp, bởi vì ở đây qui tụ những điểm mới được VDQ và CO đề ra. Đầu tiên, việc thuộc về một Liên Hiệp từ trước cho tới nay các đan viện được tự do theo Tông Hiến Sponsa Christi[6] bây giờ trở thành nghĩa vụ cho tất cả các đan viện (VDQ Điều 9 triệt 1; CO 93), ngoại trừ trong những trường hợp miễn trừ được Tòa Thánh ban cách đặc biệt. Điều này có nghĩa là kinh nghiệm của gần 70 năm cho thấy việc gia nhập vào một Liên Hiệp thực sự vô cùng quan trọng trong việc giúp các nữ đan sĩ sống ơn gọi chiêm niệm đến độ giúp họ hiểu rằng điều đó cần phải được quan tâm.

Đối với một số đáng kể những đan viện của Dòng chúng ta chưa gia nhập Liên Hiệp, quyết định này của Đức Thánh Cha đòi hỏi một cam kết mới cần được đón nhận với tình con thảo (ngoan ngoãn đón nhận với sự khiêm nhường tin tưởng phó thác cho Mẹ Hội Thánh. Đó chính là đặc điểm của các nữ tử của thánh Tê-rê-sa), đó là khiêm nhường và sự từ bỏ dứt khoát dành cho Mẹ Giáo Hội, cũng chính là đặc tính của những nữ tử Thánh Têrêsa. Giống như mọi điều mới mẻ khác, thời gian đầu đòi hỏi nhiều nỗ lực và sẽ gây ngờ vực, sợ hãi và thắc mắc, nhưng tôi chắc rằng cuối cùng tất cả những điều này sẽ được xem là cần thiết cho sự ra đời của một thực tại mới, mang lại sự sống, hiệp thông và sức mạnh (cf. Ga 16, 21). Hơn nữa (ngoài ra), sự nỗ lực thay đổi vẫn không tha ngay cả đối với những Liên Hiệp đã hiện hữu, vì Huấn thị mang đến cho thể chế này một phạm vi và mức liên quan (sự thích đáng, tầm quan trọng) rộng lớn hơn trước. Vì vậy, đối với tất cả các nữ đan sĩ, “đây là thời gian để tiến bước”, để thực hiện với sinh lực và niềm hi vọng, với ý hướng học hỏi và được đào tạo trong giai đoạn mới này của lịch sử. Vì thế, tôi mời gọi chị em đón nhận những định hướng mới với cả trái tim và khối óc tự do thoát khỏi mọi định kiến như những môn đệ trung kiên, những người sẵn sàng được hướng dẫn bởi Huấn quyền Hội Thánh và không phán xét gì trước khi đã hoàn toàn hiểu rõ.[7] Rõ ràng những gì chúng ta được yêu cầu không chỉ là hành động vâng phục hình thức bên ngoài, mà thực sự đó là điều tối thiểu phải có, mà là một thái độ “ngoan ngoãn” thật sự, nghĩa là sự sẵn sàng học hỏi những giáo huấn của Hội Thánh. Tất cả những ai đang làm công tác đào tạo biết sự khác biệt lớn lao giữa sự vâng phục bắt buộc, không chống đối thẩm quyền và sự vâng phục với lòng tin tưởng vào nhà đào tạo, như tin rằng đó là người mà Thiên Chúa đặt giữa chúng ta để giúp chúng ta lớn lên về mặt nhân bản và thiêng liêng.

Đây không phải nơi thích hợp để xem xét toàn bộ quy tắc trong Huấn thị, thêm nữa, chúng đã được trình bày khá rõ và chính xác (hiển nhiên không loại trừ trong việc áp dụng thực tế, những mối nghi ngờ và tình huống cụ thể chưa được giải quyết dứt khoát trong đó có thể phát sinh). Tôi sẽ tự giới hạn vào một vài điểm khái quát.

2.1 Về chính Liên Hiệp

Cả Huấn Thị lẫn các văn kiện trước đây đều không làm rõ con số tối thiểu các đan viện để có thể hình thành một Liên Hiệp. Tuy nhiên, cần phải biết rằng cơ cấu của Liên Hiệp bao gồm một Chủ tịch và một Ban Cố vấn Liên Hiệp gồm 4 thành viên (CO 123), một chị Quản Lý (CO 142), một chị Thư ký (CO 148), mỗi trách vụ này có thể được giao phó cho một trong 4 thành viên Ban Cố vấn, và một chị Huấn Luyện của Liên Hiệp (CO 148). Một tổ chức như thế cần một nhóm gồm nhiều đan viện, mà theo ý kiến cá nhân tôi, không thể ít hơn 6 hoặc 7. Theo cách nào đó, điều được nói về một cộng đoàn đăng ký gia nhập Liên Hiệp, tức là để thực hiện tốt chức năng trong các mối liên kết khác nhau của nó, Liên Hiệp phải được cấu thành bởi một số lượng đủ các thành viên. Gần đây, một số lượng lớn các Liên Hiệp trải dài từ con số tối thiểu 7/8 đan viện đến tối đa là 15/16.

Thông thường, các Liên Hiệp được thiết lập trên cơ sở địa lý, hay theo sự đồng nhất về tinh thần và truyền thống của các đan viện. Nguyên tắc này được tái khẳng định cách thích đáng trong CO số 87.[8]

Mỗi Liên Hiệp được lập bởi Tòa Thánh (CO 86) và được điều hành bởi Quy chế riêng được phê chuẩn bởi Tòa Thánh. Những Quy chế này phải thống nhất, không chỉ với điều được thiết lập trong Huấn Thị nhưng còn “với bản chất, luật lệ, tinh thần và truyền thống của Dòng mà quy chế đó thuộc về” (CO 91). Sự minh định quan trọng này[9] tạo điều kiện cho nhiều hình thức Liên Hiệp giữa các Dòng Chiêm Niệm, trên cơ sở về sự đa dạng đặc sủng để phân biệt giữa họ. Cho đến khi các nữ đan sĩ Cát Minh Chân Không được quan tâm, mặc dù tiêu chuẩn hay các phương pháp thích hợp với đặc sủng của chúng ta cho các Liên Hiệp vẫn chưa được định nghĩa cách dứt khoát và chính thức, chúng ta vẫn thực sự có một di sản hợp lý về kinh nghiệm sống của các Liên Hiệp mà có thể và phải được sử dụng khi phác lược Quy chế.[10]

Bên cạnh việc là một tổ chức tinh thần thuộc quyền Giáo Hoàng,[11] Liên Hiệp cũng phải lo sao “để được công nhận pháp lý trong phạm vi dân luật và đặt trụ sở pháp lý của mình tại một trong các đan viện thuộc về Liên Hiệp” (CO 94). Thật sự, tính pháp lý tư cách pháp nhân và sự công nhận dân sự đều quan trọng vì Liên Hiệp có chức năng “thủ đắc, sở hữu, quản lý và chuyển nhượng các tài sản, động sản và bất động sản, vốn là tài sản của Giáo Hội” (CO 97). Cho tới nay, các Liên Hiệp có một khoản quỹ khiêm tốn, tài chính chung do các đan viện thành viên đóng góp. CO số 102 đề cập đến một nguồn thu khác cho quỹ này, “khoản thu được từ việc chuyển nhượng tài sản của các đan viện bị giải thể, theo những quy định được thiết lập bởi Huấn Thị này”, đặc biệt trong trường hợp những đan viện không còn hoạt động (CO 109). Thực tế trong số 73, Huấn Thị khẳng định rằng “trong trường hợp giải thể một đan viện đã biến mất hoàn toàn, khi không có đan nữ nào còn sống, trừ phi Tòa Thánh chỉ định cách khác, thì theo giáo luật và dân luật, tài sản của đan viện bị giải thể ấy, sẽ thuộc về một pháp nhân cao cấp hơn, tức là Liên Hiệp các đan viện hay một cơ cấu hiệp thông tương đương khác giữa các đan viện.” Trong mối liên quan này, Huấn Thị (số 52 và 108), trong việc chỉnh sửa Giáo luật số 638 mục 4, không cần sự đồng ý của Đức Giám mục cho tính hợp pháp của việc chuyển nhượng hay bất kỳ hành vi nào khác mà tài sản của đan viện có thể bị thiệt hại.[12] Trong trường hợp nhượng lại các đan viện bị giải thể được thực hiện bởi Chủ Tịch và Ban Cố Vấn Liên Hiệp, “luôn luôn và chỉ cần bản phê chuẩn của Tòa Thánh (CO 108).

Mặc dù, từ Tông Hiến Sponsa Christi, Liên Hiệp có nhiệm vụ thăng tiến sự trợ giúp lẫn nhau, bao gồm cả về mặt tài chính giữa các đan viện, dường như rõ ràng là Huấn Thị mới nhắm đến một sự hiệp thông lớn hơn về tài sản giữa các đan viện thành viên, cũng qua sự thành lập Quỹ Liên Hiệp. Quỹ Liên hiệp này không chỉ nhắm đến việc chi trả những chi phí thông thường của Liên hiệp, nhưng – theo CO 101- “cũng để hỗ trợ nhu cầu về sinh hoạt và sức khỏe của các nữ đan sĩ, để bảo trì nhà cửa và để hỗ trợ những cơ sở mới thành lập”[13]. Do đó, rõ ràng là phạm vi trách nhiệm và công việc được giao phó cho Liên hiệp đã được mở rộng hơn.

2.2 Chủ tịch Liên Hiệp

Cor Orans nhắc lại rằng vị Chủ tịch Liên hiệp, được bầu bởi Hội Đồng Liên Hiệp với nhiệm kỳ 6 năm, “không phải là Bề trên Cao Cấp” (số 110). Tuy nhiên, sự thật là vị chủ tịch ấy được trao một số nhiệm vụ mà cho đến nay là thuộc về những bề trên cao cấp, đầu tiên là việc kinh lý theo giáo luật[14] đến các đan viện thuộc Liên Hiệp. Với một ngoại lệ được Đức Thánh Cha cho phép mà giờ đây đã được ấn định, đó là việc kinh lý theo giáo luật sẽ được thực hiện bởi vị được gọi là Vị Kinh Lý “Thường xuyên” (là Bề Trên đan viện, nếu ngài là giám mục, hay là Bề trên dòng), được tháp tùng bởi vị Chủ tịch liên hiệp như là Người Đồng Kinh lý: “Chủ tịch liên hiệp, với tư cách là vị Đồng Kinh lý, trong thời kỳ được ấn định, đồng hành cùng vị Kinh Lý “Thường xuyên” trong việc kinh lý theo giáo luật đến các đan viện thuộc Liên Hiệp” (CO 111). Số lần các chuyến kinh lý không được quy định (“trong thời gian ấn định”), nhưng theo Hiến Pháp của Các nữ đan sĩ Cát minh chân không, việc kinh lý phải được thực thiện “ít nhất 1 lần trong 3 năm.”[15] Thuật ngữ “Người Đồng Kinh Lý” có lẽ gợi lên vai trò phụ trợ hay trợ tá. Thực tế điều này không đúng. Ngược lại, số 115 của CO nói rằng, sau khi kết thúc chuyến kinh lý hay sau khi tham khảo Ban Cố vấn Liên hiệp (CO 125), vị Chủ tịch Liên hiệp có hai nhiệm vụ rất tế nhị, đó là chỉ ra bằng văn bản cho Bề trên đan viện những giải pháp tốt nhất cho những trường hợp và tình huống xuất hiện trong chuyến kinh lý,” và từ điều này phải “thông báo cho Tòa Thánh.”

Ngoài ra, theo CO 113, vị Chủ tịch có thể thăm các cộng đoàn đan viện “bất cứ lúc nào thấy cần thiết”, được tháp tùng bởi một thành viên Ban Cố vấn và chị Thủ quỹ Liên hiệp. Chuyến thăm này, không giống những chuyến thăm mang tính mẫu tử hay tình chị em được đề cập đến ở số 114, cũng sẽ mang tính mục vụ và bản chất pháp lý. Việc vị Chủ Tịch được tháp tùng bởi một thành viên Ban Cố vấn và trên hết là Thủ Quỹ Liên Hiệp, rõ ràng đem lại cho chuyến viếng thăm này tính cách kiểm tra tình hình đan viện, cũng như quan điểm quản trị. Một khía cạnh quan trọng của đời sống đan viện, được giao phó cho sự coi sóc của vị Chủ Tịch, liên quan đến “những khả năng thực sự của đan viện cho sự đảm bảo việc huấn luyện sơ khởi” (CO 117). Đặc biệt về điểm này, “sau khi kết thúc chuyến viếng thăm, vị chủ tịch sẽ báo cáo với Tòa Thánh.”

Sự lượng giá toàn bộ về tính tự trị thực sự trong đời sống của một đan viện, rút ra từ những chuyến viếng thăm được đề cập ở trên, cũng thuộc về vị Chủ tịch và là người phải trình vấn đề lên Tòa Thánh (CO 121 và 43). Trước khi quyết định, Tòa Thánh sẽ lắng nghe vị Chủ tịch, ngay cả trong trường hợp đặc biệt, khi vị Bề Trên đan viện từ chối mong muốn của một nữ đan sĩ trong việc chuyển đến một đan viện khác (CO 122).

Việc tham dự những khóa học đào tạo được tổ chức bởi Liên Hiệp cho các nhà đào tạo và các Bề Trên được đề cập đến trong CO như một nghĩa vụ phải được các đan viện thành viên tôn trọng. Vị Chủ tịch có quyền trong việc yêu cầu tham dự và, nếu một đan viện nào đó từ chối tham gia, vị chủ tịch có quyền báo lại cho Tòa Thánh (CO 118-119).

Tôi hiểu rằng việc tập trung quá nhiều công việc và trách nhiệm vào một con người, và thêm vào đó là một người chiêm niệm, trong một thời gian khá dài (6 năm), có thể gây ra sự sợ hãi và bối rối trong chị em. Chắc chắn, cần phải có sự trưởng thành nhân bản và tâm linh để việc quản lý nhiều tình huống phức tạp và tế nhị, không ảnh hưởng đến bình an nội tâm của chị em và không làm chị em đánh mất cội rễ trong mối tương quan mật thiết với Chúa. Tuy nhiên, tất cả chị em sẽ nhớ điều Mẹ Thánh Têrêsa đã viết trong Chương 5, cuốn Ký sự thành lập các đan viện: không phải sự an bình bên ngoài hay việc trốn tránh trách nhiệm sẽ dẫn chúng ta đến sự chiêm niệm đích thực, nhưng là sự tuân phục ý Chúa: “Nhưng tình yêu có sức mạnh này, nếu tình yêu đó là hoàn hảo, chúng ta quên đi việc làm hài lòng bản thân để làm vui lòng Người mình yêu” (KS TLCĐV 5,10).  Mọi sự tùy thuộc vào việc chúng ta sống thế nào những trách nhiệm mà sự vâng phục trao phó cho chúng ta. Nếu chúng ta đón nhận như là cơ hội để dâng hiến chính mình cho tình yêu anh chị em, chúng sẽ không gây hại hay tách chúng ta khỏi mục tiêu của ơn gọi, là sự kết hiệp với Chúa. Trái lại, chúng ta sẽ tìm thấy Chúa cách tỏ tường trong những lao nhọc của mình và nơi những lệnh truyền đầy rủi ro: “Hỡi các nữ tử của mẹ, đây là nơi tình yêu sẽ được nhìn thấy: không phải ẩn mình trong góc nhà, nhưng giữa những lần vấp ngã. Và hãy tin Mẹ rằng, mặc dù có thể có nhiều lỗi lầm hơn, thậm chí còn có những mất mát nhỏ, thì chúng ta cũng sẽ đạt được những điều lớn lao không gì sánh được” (KS TLCĐV 5,15).

2.3 Cố vấn và các chức vụ khác trong Liên Hiệp

Chủ tịch Liên Hiệp, khi thực thi chức năng của mình, được trợ giúp bởi Ban Cố vấn gồm 4 thành viên tuyển chọn từ Hội Đồng Liên Hiệp, những người đã khấn trọng (những điều kiện tiên quyết khác về tuổi đời, tuổi khấn hay sự tương hợp với những chức vụ khác cho cuộc bầu cử có thể được quy định trong Quy chế). Điều này có nghĩa là cơ cấu lãnh đạo của Liên Hiệp không mang tình hiệp đoàn. Chủ tịch dẫn dắt Liên Hiệp với sự trợ giúp của Ban Cố Vấn. Về một số quyết định Chủ tịch cần sự đồng thuận của Ban Cố vấn,[16] trong khi đối với những quyết định khác – được định rõ trong các đoạn 125-126, 128- vị Chủ tịch phải lắng nghe ý kiến của họ.

Tuy nhiên, về tài chính, những lời lẽ dùng trong CO lại đề nghị sự quản lý mang tình hiệp đoàn: “Tài chính của Liên Hiệp được quản lý bởi Ban Cố vấn Liên Hiệp, được chủ trì bởi Chủ tịch Liên Hiệp, nhờ sự cộng tác của chị quản lý của Liên Hiệp.” (CO 103). Trong bất cứ trường hợp nào, “về các chi phí và hoạt động quản trị ngoại thường, cần phải có phép Ban Cố vấn Liên Hiệp và Hội đồng Liên Hiệp, theo giá trị tài sản chung thiết lập bởi luật riêng” (CO 105). Tương tự, về tính hợp pháp của việc mua bán hay bất kỳ giao dịch nào khác có thể gây hại đến tài chính Liên Hiệp, cần có phép của Ban Cố Vấn hay Hội Đồng Liên Hiệp (CO 107).

Ngoài Ban Cố Vấn, Huấn Thị cho thấy cơ cấu của Liên Hiệp cũng bao gồm những chức vụ sau:

  • Thủ quỹ Liên Hiệp, là người được bầu bởi Hội Đồng Liên hiệp trong nhiệm kỳ 6 năm (CO 142-143). Đây là một công việc đặc biệt quan trọng, cả về quản trị Quỹ Liên Hiệp lẫn giám sát và hỗ trợ các đan viện trong việc quản lý tài sản của họ. Điều đó giả định rằng thủ quỹ là một nữ tu khấn trọng thể của cùng một Dòng, ngay khi điều này không được tuyên bố một cách rõ ràng. Tuy nhiên, cần ghi nhớ những gì được khẳng định trong văn kiện gần đây của Thánh Bộ về Kinh Tế Học, đó là “sự phức tạp ngày càng tăng về tình hình kinh tế-quản trị thường khiến cho việc cậy nhờ “một sự cộng tác với những chuyên gia bên ngoài” là cần thiết.[17] Trên thực tế, kinh nghiệm của một số Liên Hiệp, sau khi phân định kỹ lưỡng về con người và những phương cách tiến hành cho thấy sự cộng tác này rất cần thiết.
  • Thư ký Liên Hiệp, do Chủ tịch Liên Hiệp bổ nhiệm trong 6 năm (CO 144). Chức vụ này có thể được đảm nhận bởi một trong các thành viên của Ban Cố Vấn Liên Hiệp. Và nếu có thể được, Thư Ký Liên Hiệp nên cư ngụ trong đan viện được chỉ định làm trụ sở pháp lý của Liên Hiệp, cũng là nơi lưu giữ văn khố của Liên Hiệp (CO 145). Thư ký Liên Hiệp thực hiện chức năng lưu giữ và cập nhật tài liệu của Liên Hiệp và cũng là thư ký của Ban Cố vấn Liên Hiệp.
  • Chị Huấn Luyện của Liên Hiệp được bổ nhiệm “tự ý”/ “ad nutum” bởi Chủ tịch Liên Hiệp với sự ưng thuận của Ban Cố vấn (CO 148). Trong số 129, nhiệm vụ của Chị Huấn Luyện Liên Hiệp được mô tả, rằng vị này “thực hiện và điều phối việc huấn luyện sơ khởi chung”, khi tham chiếu đến VDQ điều 3 triệt 7, cho phép thành lập “những nhà huấn luyện sơ khởi chung cho các đan viện” để bảo đảm chất lượng đào tạo. Tất nhiên, một trong những mục tiêu của Liên Hiệp là bảo đảm “sự hỗ trợ trong việc huấn luyện sơ khởi” (CO 92). Sự trợ giúp này được cụ thể hóa cách riêng trong quyết định của Hội đồng Liên Hiệp để chọn một đan viện làm nơi huấn luyện sơ khởi (CO 141.h). Tuy nhiên, công năng thực sự của nơi đào tạo chung này dường như đáp ứng cho tình trạng thiếu hụt và non kém của những đan viện không đủ khả năng thích hợp cho công việc đào tạo mà qua việc kinh lý cho thấy (CO 259).
  • Vị Tu sĩ Trợ lý, quyền bổ nhiệm vị trí này được “dành riêng cho Tòa Thánh, nhưng Liên Hiệp có thể đề cử các ứng viên.” (CO 152). Như chị em biết, Tông Hiến Sponsa Christi đã đề nghị nhân vật tu sĩ trợ lý của Liên Hiệp, nhưng không bắt buộc các Liên Hiệp phải áp dụng.[18] Chỉ mới gần đây, Thánh Bộ, với sắc lệnh được phê chuẩn 8/9/2012, đề xuất lại nhân vật tu sĩ trợ lý trong ý nghĩa đã được phác họa bởi Sponsa Christi, và giới thiệu một tiến trình mới về việc bổ nhiệm bởi Tòa Thánh. Các Liên Hiệp được mời gọi cập nhật Quy Chế của mình theo sắc lệnh này, nhưng không tuyên bố cách rõ ràng là mỗi Liên Hiệp phải có một Trợ lý. Tông Hiến VDQ, đã bỏ qua vấn đề này mà lẽ ra nó có đủ thẩm quyền để điều chỉnh các quy tắc của Tông Hiến trước đó. Huấn thị, dù rằng nó giải quyết cách khái quát về vị trí Trợ lý, không tuyên bố cách rõ ràng rằng vị trí này có bắt buộc hay không. Rõ ràng, Huấn Thị giả định là Liên Hiệp đã có một Vị Trợ lý, nhưng nó không yêu cầu cách chính thức rằng các Liên Hiệp không có phải bổ sung vị trí này (trừ phi được yêu cầu bởi Thánh Bộ Đời Sống Thánh Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ trong việc chấp thuận tái xem xét Quy chế của họ)

Liên quan đến nhiệm vụ của Vị Trợ lý, Huấn Thị tái khẳng định điều mà Sponsa Christi đã tuyên bố, tức là vị này sẽ khuyến khích “sự bảo tồn tinh thần thuần khiết của Dòng” và giúp vị Chủ tịch trong việc điều hành Liên Hiệp “cách riêng trong việc đào tạo ở mức Liên Hiệp và trong việc giải quyết vấn đề tài chính ở tầm mức quan trọng hơn” (CO 151). Tôi muốn chỉ ra ở khía cạnh thứ hai, vì vị Trợ lý nhất thiết phải là giáo sĩ, không được xem nhẹ năng lực chuyên môn về tài chính của ngài. Vì Trợ lý được bổ nhiệm “tuỳ ý”/ “ad nutum Sanctae Sedis” bởi Tòa Thánh (CO 153), một sự uỷ nhiệm không giới hạn, cho đến khi Tòa Thánh thấy cần bổ nhiệm người khác. Vị Trợ lý được yêu cầu trình bày một báo cáo vắn tắt cho Thánh Bộ Đời Sống Thánh Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ mỗi năm “về công việc của ngài, về tiến bộ của Liên Hiệp, báo cáo bất cứ trường hợp đặc biệt nào”. Chỉ đến cuối nhiệm kỳ, ngài gửi một báo cáo chi tiết hơn về tình hình của Liên Hiệp.

  1. Đan viện

Một bộ thứ hai của các chỉ định mang tính qui tắc của Huấn thị liên quan đến Quy chế Giáo Luật của mỗi đan viện, như một cộng đoàn tự trị pháp lý. Khi cố gắng tóm tắt và hệ thống hóa bản văn Cor Orans, tôi sẽ tập trung vào 2 điểm mà theo tôi là nền tảng: khái niệm về quyền tự trị và sự quản trị trong cộng đoàn.

3.1 Khái niệm quyền tự trị

Số 15 của CO định nghĩa một đan viện tự trị hay “sui juris” cách minh nhiên và thấu đáo:

Một đan viện sui juris (tự trị) là một cộng đoàn tu trì có quyền tự trị pháp lý: bề trên đan viện là Bề Trên Cao cấp, cộng đoàn được thiết lập bền vững về số lượng và phẩm chất của các thành viên; theo luật, đó là nơi làm tập viện và huấn luyện, được công nhận tư cách pháp nhân công khai và tài sản của đan viện là tài sản của Giáo hội.

Có thể thấy khi phân tích đoạn văn cô đọng trên, khái niệm về tự trị, một mặt đòi hỏi năng quyền thi hành độc lập một loạt các nhiệm vụ (lãnh đạo, huấn luyện, quản trị), mặt khác đòi hỏi cần phải đáp ứng một loạt các đòi hỏi (số lượng và chất lượng của các thành viên). Các năng quyền được ban bởi vì cộng đoàn có khả năng đáp ứng những điều kiện nhất định. Trước hết, Huấn thị nêu lên một khái niệm đúng đắn và quân bình về tự trị, gồm lưu tâm đến hai khía cạnh: về những năng quyền được ban và những điều kiện mà dựa vào đó một đan viện được hưởng những năng quyền này. Điều kiện của sự tự trị theo giáo luật không phải là điều được ban như một thực tại sẵn có (không phải là một dữ liệu mang tính bản thể), hay là một đặc ân không thể thu hồi, nhưng là một điều kiện mang tính lịch sử, đạt được qua một chặng đường phát triển hoặc không may thay, điều kiện ấy có thể bị mất đi như là hậu quả của tiến trình đi xuống về số lượng và/ hay chất lượng. Về phương diện này, điều quan trọng nhất mà Huấn thị đóng góp là sự triển khai ý niệm tự trị, quan tâm đến không chỉ định nghĩa về mặt pháp lý trừu tượng nhưng đồng thời trong ‘đường cong’ lên xuống cụ thể của nó. (chú thích: đường cong Parabol trong toán học)

Đường cong đi lên, tức là chặng đường phát triển hướng đến tự trị, được trình bày trong những đoạn văn về sự thành lập đan viện (CO 20-38) và cho việc thiết lập đan viện theo giáo luật (CO 39-53). Những cải tiến quan trọng nhất liên quan đến 2 giai đoạn này như sau:

  • Số tối thiểu các nữ tu cần thiết để bắt đầu một cơ sở mới được cụ thể hoá: 5 nữ đan sĩ, trong đó ít nhất 3 người khấn trọng (CO 29).
  • Cơ sở mới sẽ được điều hành bởi Bề trên nhà, được bổ nhiệm bởi Bề trên của đan viện sáng lập hay Chủ tịch Liên Hiệp trong trường hợp cơ sở này được lập bởi Liên Hiệp.[19]
  • Để cơ sở mới được thiết lập tập viện, phải có ít nhất 5 đan nữ khấn trọng. (CO 33).
  • Khoảng thời gian từ khi bắt đầu thành lập đến khi đan viện được thiết lập theo giáo luật không quá 15 năm. (CO 38)
  • Về việc một đan viện được thiết lập theo giáo luật, cộng đoàn phải bao gồm ít nhất 8 đan nữ khấn trọng, và phần đông không được quá lớn tuổi. (CO 39a).[20]

Theo Huấn thị, để xin phép của Tòa Thánh thành lập cơ sở mới hay cho việc một đan viện được thiết lập theo giáo luật, cần phải trình văn bản chấp thuận của giám mục giáo phận (CO 29,83.c). Tuy nhiên, tôi nhắc lại rằng, theo luật của các nữ đan sĩ Cát Minh chân không, việc thành lập một cơ sở mới cần sự chấp thuận của Bề Trên Tổng Quyền của Dòng (HP.204), trong khi việc một đan viện được thiết lập theo giáo luật đòi hỏi sự chấp thuận của Bề Trên Tổng Quyền trong trường hợp các đan viện dưới quyền coi sóc của Dòng, hay ý kiến của ngài trong trường hợp các đan viện dưới quyền coi sóc của Đức Giám Mục giáo phận (HP.206). Các điều khoản này, không đối lập với với Huấn thị, nên không được phép hủy bỏ.

Khía cạnh này, số 76 Cor Orans, loại trừ điều được gọi là sự ‘lệ thuộc kép’ của một đan viện dưới 2 thẩm quyền pháp lý khác nhau, cũng phải được hiểu rõ. Sự loại trừ này áp dụng, và cũng được giải thích trong cùng số này, về sự lệ thuộc “đồng thời và song hành” vào giám mục giáo phận và bề trên Dòng. Tuy nhiên, Huấn thị không giải quyết vấn đề vai trò của Bề trên tổng quyền, đây là cách diễn tả sự hiệp nhất của Dòng như “một gia đình dòng tu hiệp nhất trong Hội Thánh” bao gồm những nam nữ đan sĩ. (HP.199). Đây là yếu tố mang tính đặc sủng, trở lại với ý định rõ ràng của Mẹ Thánh Têrêsa (xem.HP. 200, 241-246), cần được phải lưu ý trong việc áp dụng Huấn thị trong đời sống của các nữ đan sĩ Cát Minh chân không.

Đường cong đi xuống, nghĩa là khả năng có thể đánh mất những điều kiện cần thiết để có thể được hưởng tính tự trị pháp lý, được bàn đến trong các số 43, 45, 54-64 và 67-73 của Huấn thị. Một cách hoàn toàn mang tính tổng hợp, đối với tôi, những điểm sau đây là quan trọng nhất để hiểu mục này:

  • Đầu tiên, sự tương ứng giữa tính tự trị pháp lý và tính tự trị sinh động của đan viện sẽ phải được kiểm chứng liên tục bởi vị Chủ tịch Liên Hiệp (CO 43). Có lẽ đây là điểm “khó chịu” nhất của cả Huấn thị, cả cho đan viện dưới quyền Chủ tịch, cũng như với nữ tu được gọi để thực thi vai trò khó chịu này. Nhưng chính ở đây mối liên hệ giữa đan viện và thẩm quyền mà đan viện lệ thuộc, ở đây là Thánh bộ, trở nên cụ thể. Mối tương quan này cho tới nay khá yếu và không hiệu quả, và điều này gây nên vô số các trường hợp mà tính tự trị “chỉ được xác định, nhưng trong thực tế rất bấp bênh hay thực sự không tồn tại” (CO 54). Vì thế cần thiết phải tìm ra những giải pháp hiệu quả, điều mà Tông Hiến và Huấn thị theo sau đã xác định được nơi cơ cấu Liên Hiệp và vị Chủ tịch Liên Hiệp. Đây là lý do tại sao bất kỳ sự miễn chuẩn nào từ yêu cầu của Liên Hiệp chỉ có thể là ngoại lệ và phải được đánh giá cách chắc chắn. (CO 93).
  • Trong trường hợp vị Chủ tịch đánh giá rằng những điều kiện mà sự tự trị pháp lý đòi buộc không còn tồn tại trong đan viện, ngài “có nghĩa vụ báo cho Tòa Thánh với viễn tượng để đề cử một Uỷ ban đặc nhiệm /ad hoc commission”.
  • “Khi số nữ tu khấn trọng thể còn 5 người, cộng đoàn đan viện ấy đánh mất quyền bầu cử Bề Trên.” (CO 45). Huấn thị do đó định rõ “số tối thiểu các nữ tu” mà VDQ (điều 8 triệt 1) nêu ra như đòi hỏi đầu tiên để có thể xác định việc cho việc đan viện có quyền tự trị thực sự không. Khi số nữ tu khấn trọng giảm xuống 5 (hay ít hơn), cộng đoàn đó mất quyền bầu cử Bề trên và rơi vào trình trạng được Thánh Bộ “để ý quan tâm”; trong trường hợp trên, Vị Chủ tịch Liên Hiệp phải thông báo kịp thời tình trạng này. Thánh Bộ ủy quyền cho Bề trên của đan viện (là Giám Mục hay bề trên Dòng) bổ nhiệm “một bề trên quản trị”, sau khi lắng nghe các nữ tu, và đánh giá liệu có cần thiết lập một Uỷ ban đặc nhiệm (ad hoc) hay không.
  • Uỷ ban đặc nhiệm ad hoc, được lập ra gồm Đấng Bản Quyền (giám mục hay bề trên dòng), chủ tịch Liên Hiệp, Trợ lý Vị tu sĩ trợ tá Liên Hiệp và Bề trên đan viện, là một Uỷ ban tư vấn mà Thánh Bộ dùng nếu cho là thích đáng, trong các trường hợp mà cuộc sống tự trị sinh động của đan viện đang gặp nguy hiểm. (CO 56,69).
  • Nói cách cụ thể, khi một đan viện chắc chắn không còn những điều kiện để tự trị nữa[21], thì việc sáp nhập vào một đan viện khác hay vào Liên Hiệp phải được tính đến.

Việc sáp nhập giúp cho việc “lượng định liệu xem đan viện tự trị không có khả năng quản lý được cuộc sống dưới mọi chiều kích chỉ là tạm thời hay là vĩnh viễn, hầu trợ giúp cộng đoàn đan viện được sáp nhập vượt qua khó khăn hay là sắp xếp những gì cần thiết để tiến tới việc giải thể đan viện này.” (CO 55). Đây là một tình trạng quá độ, để cuối cùng, phục hồi quyền tự trị pháp lý hay là phải giải thể đan viện. (cf. CO 67)

  • Nếu tình trạng bất lực của đan viện là không thể thay đổi, “thì dù gây đau lòng, nhưng giải pháp là phải giải thể đan viện” (CO 67). Ai đó có thể tự hỏi: tại sao việc giải thể đan viện là cần thiết? Chúng ta không thể tiếp tục cho tới khi cộng đoàn đó biến mất cách tự nhiên được sao? Nghĩa là sẽ tiếp tục sống trong tình trạng giới hạn của nó, với sự trợ giúp từ bên ngoài? Số 68 của CO nói đến khả năng mỗi đan viện phải “diễn tả việc làm chứng công khai cách đặc biệt cho Đức Kitô và cho Giáo Hội Hiền Thê của Người, theo đặc tính chiêm niệm và mục đích của Dòng.” Đan viện là một thực tại công khai, thuộc về Dòng và Giáo Hội. Xu hướng kiên trì đến một kết cục cay đắng, ngay cả khi những điều kiện cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ mang tính giáo hội không còn nữa, điều này xuất phát từ sự hiểu biết sai lầm rằng đan viện là một “tài sản riêng”, tức là chỉ các nữ tu cư trú trong đó mới được quyền giải thể. Việc tư hữu hóa đan viện này dẫn tới sự méo mó về tinh thần và hành vi vốn làm nên đặc tính của cộng đoàn tu chiêm niệm. Vì lý do này, việc giải thể là không thể tránh khỏi đau lòng nhưng cần thiết cho lợi ích của Giáo Hội và cho chính các nữ đan sĩ.

3.2 Sự mở rộng các năng quyền trong việc quản lý nội bộ cộng đoàn.

Việc mở rộng các năng quyền được trao cho Liên Hiệp, cách riêng cho vị Chủ tịch Liên Hiệp, cũng như chú ý hơn tới tính tự trị thực sự về đời sống của mỗi đan viện, không nên được hiểu là Huấn thị có ý định giảm quyền tự trị của các đan viện chiêm niệm. Điều này không chỉ được nhắc đến một vài lần (CO 6, 15-17), nhưng còn được cũng cố thêm. Có ít nhất 3 lĩnh vực mà Huấn thị trao thẩm quyền lớn hơn cho Bề trên và Hội đồng của cộng đoàn (đan viện).

  • Trong phạm vi của việc quản trị các tài sản vật chất, qua việc sửa lại điều khoản giáo luật 638 mục 4 (và từ Hiến pháp các nữ đan sĩ Cát Minh chân không số 253), giấy phép của Đấng Bản Quyền hay của Bề trên Dòng về việc chuyển nhượng tài sản (mua bán hay hiến tặng); hoặc cho những giao dịch khác mà tài sản của đan viện có thể bị thiệt hại (như khế ước nợ hay các khoản vay ngân hàng, thế chấp, thuê mướn v.v… ) là không còn cần thiết nữa, trừ phi giá trị của việc giao dịch đòi hỏi thẩm quyền từ Tòa Thánh (CO 52-53). Từ bây giờ, sự hợp pháp của những hành động quản trị ngoại thường sẽ được quyết định bởi thư chấp thuận của Bề trên với sự đồng ý của Hội Đồng[22] và ý kiến của Chủ tịch Liên Hiệp.
  • Liên quan đến các quy tắc về nội cấm giáo hoàng, điều được thiết lập trong giáo luật 667 mục 3 được xác nhận, đó là, nội cấm giáo hoàng mang lại tính đặc thù cho các đan viện hoàn toàn chiêm niệm (CO 185).[23] Tuy nhiên, một số điều mới được đưa vào liên quan đến điều luật có hiệu lực cho đến nay là:
  • Bình thường việc tham dự thể lý trong các sự kiện và sứ vụ của cộng đoàn giáo hội bị loại trừ, nhưng có thể được Giám mục giáo phận hay bề trên dòng cho phép trong những dịp đặc biệt (CO 188b).
  • “Hội đồng đan viện có trách nhiệm quyết định phương thức tách biệt khỏi thế gian” (CO 166). Do đó, không cần thiết phải trình những quyết định này cho Tòa Thánh chấp thuận, trái ngược với những gì đã được khẳng định trong Huấn thị Verbi Sponsa trước đó (n. 11c) và trong Hiến pháp Dòng Cát Minh (số. 113). Tuy nhiên, phương thức tách biệt, phải “cụ thể và hiệu quả, không chỉ mang tính tình thức hay tinh thần”. (CO 166, 188b)
  • “Việc cho phép một nữ tu thực hiện những công việc của những chị nhà ngoài trong một thời gian nhất định” (CO 198) thuộc trách nhiệm của bề trên. Huấn thị nói rõ rằng chức năng này áp dụng tại nơi mà “luật không dự liệu sự hiện diện của các nữ tu nhà ngoài.” Thực ra, Hiến pháp của Các Nữ đan sĩ Cát Minh chân không, có dự liệu khả năng về sự có mặt của các nữ tu nhà ngoài (HP.182). Tuy nhiên, trên thực tế, vì một số đông các đan viện không có các nữ tu nhà ngoài hay giáo dân trông coi (giúp đỡ), theo ý kiến khiêm tốn của tôi, mở rộng quyền hạn này cho tất cả các đan viện, nơi mà các nữ tu có nghĩa vụ thi hành các công việc cần thiết bên ngoài cũng là điều thích hợp.
  • Như một miễn trừ cho khoản giáo luật 667 mục 4 (và Verbi Sponsa 17 mục 2), Đức giám mục giáo phận hay bề trên dòng (CO 174) không can thiệp vào việc ban hành phép miễn chuẩn nội vi. “Sự miễn chuẩn nội vi chỉ thuộc quyền Bề trên đan viện. Trong trường hợp thời gian miễn chuẩn vượt quá 15 ngày, Bề Trên có thể ban hành chỉ sau khi có sự ưng thuận của Ban Cố vấn.”
  • Liên quan đến các quy tắc, về việc ban hành phép vắng mặt hay phép chuẩn sống ngoại viện:

* Bề trên đan viện, theo giáo luật 665 mục 1 (việc áp dụng cho các nữ tu nội cấm bởi Verbi Sponsa 17, mục 2, bị bãi bỏ), “Khi có những lý do chính đáng […] với sự ưng thuận của ban Cố vấn, có thể cho phép 1 nữ tu khấn trọng vắng mặt khỏi đan viện không quá 1 năm, sau khi lắng nghe vị giám mục giáo phận hay Đấng Bản quyền Dòng.” (CO 176)

* Bề trên đan viện, với sự ưng thuận của ban Cố vấn, có thể ban hành phép chuẩn sống ngoại viện cho một nữ tu khấn trọng trong thời hạn không quá 1 năm, sau khi lắng nghe lời khuyên của Đấng bản quyền sở tại (là giám mục hay bề trên dòng). Việc ban hành này cũng cần có sự ưng thuận của GM giáo phận nơi mà nữ tu đó sẽ đến sống (CO 177). Phép chuẩn này có thể được gia hạn thêm 2 năm bởi Chủ tịch Liên Hiệp, với sự ưng thuận của ban Cố vấn Liên Hiệp. (CO 178-179)

  1. Việc đào tạo

1/4 Huấn thị, tức 71 số, dành để nói đến việc đào tạo trong đời sống chiêm niệm và khai triển những đề nghị bao gồm trong VDQ các số 13-15 và điều 3. Báo cáo được chia làm 4 phần: sau khi đặt ra một số các nguyên tắc chung, nó bàn đến chương trình đào tạo liên tục, các phương tiện để thực hiện việc đó, và các giai đoạn khác nhau của việc đào tạo sơ khởi. Cuối cùng, số 289, vấn đề cuối của CO, thông báo việc xuất bản của Những Định hướng xa hơn, hữu ích cho việc đào tạo của các bề trên đan viện, các nhà đào tạo và các chị quản lý, để “tiếp nối và hoàn tất Huấn thị này.”

Những nguyên tắc chung lấy chủ đề đã được đặt ra trong những văn kiện khác của Huấn quyền, bắt đầu với Đời sống thánh hiến: đặc tính liên tục của việc đào tạo, không cắt giảm thời gian đào tạo sơ khởi hay những dịp đặc biệt của việc đào tạo liên tục hay cập nhật (bồi dưỡng) (CO 223-231); nhu cầu về đào tạo cá nhân và toàn diện bao gồm tất cả các chiều kích của con người, cũng không quên những gì nền tảng và căn bản nhất (CO 224-228); định hướng Kitô học của hành trình đào tạo – bằng việc tiếp tục và đào sâu ơn gọi của Bí Tích rửa tội- nhắm đến sự đồng hóa với “những tâm tình của Đức Kitô”. (CO 222)

Trong phần về đào tạo liên tục, nói rõ mục đích của việc này, là không quá mở rộng hay cập nhật kiến thức nhưng là “để nuôi dưỡng và duy trì lòng trung tín, của mỗi nữ tu và cả cộng đoàn […] nhờ đó, người thánh hiến có thể diễn tả cách trọn vẹn việc dâng hiến bản thân trong Giáo Hội, theo một đặc sủng cụ thể.” (CO 233) Nói cách khác, đào tạo liên tục nhằm quan tâm đến con người và ơn gọi của các nữ tu, không có nó một người có lẽ không thể tránh khỏi rơi vào việc thiếu quan tâm đến bản thân, sự mệt mỏi và thiếu động lực. Vì lý do này, việc thường huấn tập trung vào đời sống thường nhật, gồm cầu nguyện và làm việc, nhưng trên hết là mối tương quan với Chúa, với các chị em trong cộng đoàn và với thế giới bên ngoài (CO 235). Như Thánh Têrêsa khuyên nhủ: “Mẹ không xin các con làm điều gì mới, hỡi các nữ tử của mẹ, mẹ chỉ xin chị em tuân giữ những gì chúng ta đã tuyên hứa, vì đó là ơn gọi và nghĩa vụ của chúng ta, mặc dù có nhiều mức độ tuân giữ.” (ĐHT.4.1).[24] Mẹ Têrêsa biết rõ rằng một người có thể trung thành giữ các điều được ghi trong Luật và Hiến Pháp cách bên ngoài, mà không thực sự biến đổi tận căn con người mình. Đức tin đích thực làm cho việc chu toàn bổn phận trở nên cơ hội cho sự lớn lên và hoán cải liên tục, đức tin ấy cũng trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết, và điều này thực sự là định nghĩa tốt nhất cho việc đào tạo liên tục.

Về những phương tiện cụ thể cho việc đào tạo liên tục, Huấn thị, theo ví dụ của VDQ,[25] kể đến “chương trình của đời sống cộng đoàn” (CO 232, 238, 170). Mặc dù nó không giải thích chính xác chương trình này bao gồm những gì, nhưng rõ ràng là “đó không phải đơn thuần là một thời khóa biểu của đời sống cộng đoàn, nhưng là một đời sống cộng đoàn và con đường sứ vụ […] để không đánh mất tính năng động, vốn phải được kiểm định đều đặn, để nó có thể được linh động thích ứng với những tình huống thay đổi trong cộng đoàn.”[26] Tôi tin rằng tất cả 12 khía cạnh của đời sống chiêm niệm được giải quyết trong Vultum Dei quaerere phải là một phần của dự án này, nhờ đó cộng đoàn, trong tình huynh đệ và đồng chia sẻ (quyền hạn và trách nhiệm), có thể vạch rõ cách thức thực hiện chúng, trong bối cảnh lịch sử và địa lý đặc thù của mình. Đây là một cách khơi gợi trách nhiệm của mỗi thành viên trong việc xây dựng cộng đoàn, trong cam kết làm chứng, và gắng sức thi hành sứ vụ của họ. Thói quen hằng ngày có thể làm lu mờ nhận thức giá trị đằng sau những hoạt động thường nhật và làm suy yếu lòng quảng đại và tính sáng tạo khi thực hiện chúng. Chương trình đời sống cộng đoàn, cũng như kế hoạch cá nhân, là những công cụ giúp cho việc tái thúc đẩy đời sống thường ngày của chúng ta, để đừng cho là đúng những gì luôn được làm cách rập khuôn, thì không thể được làm theo một cách khác, thu hút hơn hay ý nghĩa hơn và hiệu quả hơn; và chúng ta có thể bắt đầu làm điều mà chưa ai từng làm, hãy thực hiện, rồi sau đó sẽ có được kết quả từ kinh nghiệm. Điều quan trọng nhất là đời sống cộng đoàn chiêm niệm không phải là một cỗ máy tự động, nhưng là sự diễn tả của tính năng động và cuộc kiếm tìm huynh đệ. Sự hợp tác giữa các cộng đoàn đan viện cũng được “đề cao” (CO 241), nhờ sự trao đổi và chia sẻ những kinh nghiệm sẽ khai sáng và làm phong phú chúng ta, bằng cách khuyến khích và đặt ra những câu hỏi mới, điều ấy bảo vệ chúng ta khỏi mối nguy hiểm trở nên chỉ biết tham khảo chính mình.

Liên quan đến đào tạo sơ khởi, đầu tiên văn kiện mang lại một số định hướng chung về sự ăn khớp giữa các giai đoạn đào tạo và thời gian (261-253), về phân định ơn gọi, cụ thể là về những người đến từ các quốc gia khác (254-257), và về những yêu cầu để một đan viện trở nên 1 cơ sở đào tạo sơ khởi (258-261). Thời gian huấn luyện sơ khởi sẽ kéo dài ít nhất 9 năm và tối đa 12 năm (CO 253).[27] Nói chung, phác thảo các giai đoạn của việc đào tạo như sau:

  • 1 năm tìm hiểu (có thể kéo dài đến 2 năm)
  • 1 năm thỉnh sinh (có thể kéo dài đến 2 năm)
  • 2 năm tập sinh, năm thứ 2 sẽ là năm tập ngặt theo giáo luật.
  • 5 năm khấn tạm (có thể gia hạn theo giáo luật 657 mục 2, nhưng “chú ý là đào tạo sơ khởi không quá 12 năm” CO 288).

Vì theo điều khoản đầu tiên trong phần ‘những quy định cuối cùng’ (CO), Huấn thị “áp dụng trong hiện tại […] ngay từ khi được ban hành”, những quy tắc này theo đó cũng áp dụng cho những ứng viên hiện nay trong đào tạo, trừ phi họ đã đi đến cuối của hành trình đào tạo (ví dụ, họ đã được chấp nhận cho khấn trọng).

Ngay khi việc phân định ơn gọi được đề cập, Huấn thị trên hết khẳng định tính khách quan của nó, nói về một “sự phân định trong sáng, tự do khỏi những cám dỗ về số lượng hay tính hiệu quả” (CO 254). Nếu một người để phán đoán của mình bị ảnh hưởng bởi những lợi ích khác hay những tiêu chuẩn chủ quan, thay vì lợi ích của một con người và tìm kiếm thánh ý Chúa cho họ; người đó liều mình phạm sai lầm, điều sẽ đưa đến hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân người ấy, cho cộng đoàn và cho toàn Dòng. Mỗi ứng viên phải được biết trong chiều sâu và được đồng hành cách cá nhân, chú ý đến tất cả các khía cạnh của người ấy. Trong trường hợp những ơn gọi đến từ các nước khác, cần phải ý thức về một trách nhiệm lớn hơn, tức là sự khác biệt văn hóa kéo theo một chương trình đào tạo tương xứng (và do đó sẽ thuận lợi hơn khi những ơn gọi này được tiếp nhận vào các cộng đoàn vững mạnh và sinh động). Tuy nhiên, sự tiếp nhận này được khuyến khích, đặc biệt “với nhãn quan truyền bá đời sống đan tu ngày mai trong những giáo hội địa phương, nơi mà mà hình thức theo Đức Kitô này chưa hiện diện” (CO 256). Ngược lại, việc thực hiện tuyển mộ những ứng viên từ các nước khác “cho một mục đích duy nhất là bảo đảm sự tồn tại của đan viện” (CO 257) thì phải tuyệt đối tránh.

  1. Kết luận

Tôi không tuyên bố giải quyết hết các vấn đề trong Cor Orans. Tôi tự giới hạn trong một số yếu tố mà tôi cho là căn bản nhất. Thêm nữa, chỉ với thời gian và kinh nghiệm mà chúng ta sẽ mới có thể thấm nhuần và thích ứng những điều khoản mới vào đời sống các Nữ đan sĩ Cát Minh chân không. Như tôi đã nói lúc đầu, đây là một hành trình lâu dài và khó khan nhưng cần thiết mà chúng ta muốn thực hiện với sự tin tưởng và hy vọng nơi Vị Mục tử tốt lành, Người hướng dẫn chúng ta qua các chặng đường lịch sử.

Tại trung ương Dòng, đặc biệt là cá nhân tôi, cá nhân các Cha Tổng Giám Định, và Cha Tổng Thư Ký nhánh nữ của Dòng, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ chị em trên hành trình này, trong khả năng chúng tôi có thể. Về điều này, tôi muốn lưu ý rằng, trong số những điều khác, Huấn thị cho phép khả năng thiết lập một ủy ban quốc tế về các nữ tu, điều này phải được Tòa Thánh phê chuẩn, “với mục đích khuyến khích việc học hỏi các chủ đề liên quan đến đời sống chiêm niệm tương ứng với đặc sủng riêng”. (CO 96)

Có thể còn quá sớm cho Dòng chúng ta (như đã rõ từ buổi họp với các nữ tu tại Tổng Tu Nghị tại Avila), nhưng nó là một phương tiện khả thi cần ghi nhớ cho tương lai.

Một câu hỏi cuối đặt ra, câu hỏi mà tôi không thể không trả lời, liên quan đến việc xem xét lại Hiến pháp của chị em. Như chị em biết, Tông Hiến VDQ điều 14 triệt 2: “Các điều khoản Hiến Pháp hay Quy Luật của mỗi Dòng tu riêng biệt, một khi được thích nghi mới, phải được đệ trình cho Tòa Thánh phê chuẩn”. Nhớ rằng bản văn không nói về Hiến Pháp cách chung nhưng là “các điều khoản của Hiến Pháp” mà phải được thích nghi theo những điều luật quy định mới. Nhìn vào 256 điều khoản trong Hiến Pháp, chỉ một phần nhỏ sẽ cần phải được xem xét lại.[28] Hiện giờ, tôi nghĩ việc ưu tiên là thuấm nhần và thực hành Huấn thị. Sau này mới cần tiến hành việc chỉnh sửa và tổng hợp Hiến Pháp dựa theo tiến trình được nói đến trong điều 17.[29]

Các chị em thân mến, tất cả chúng ta đã nhận ra rằng công việc phía trước rất khó khăn. Chính vì lý do này, chúng ta cần cùng nhau đối diện, được cổ vũ bởi cùng một tinh thần Têrêsa, cùng một tình yêu dành cho Đức Kitô và cho Giáo Hội. Chúng ta phó thác chính mình cho sự bảo vệ của Mẹ, là Vẻ Đẹp và Ánh Huy Hoàng của núi Cát Minh, cho sự cầu bầu và hướng dẫn của Mẹ, để công cuộc canh tân của chúng ta có thể tiến hành một cách hiệu quả trên con đường Giáo Hội đã chỉ ra.

Trong tình huynh đệ,

Saverio Cannistrà OCD

Bề Trên Tổng Quyền.

[1] Từ giờ về sau, theo như Huấn Thị, tôi sẽ chỉ dùng thuật ngữ “các Liên Hiệp”, cũng có nghĩa là các Hiệp Hội. [xem phần cuối của Huấn Thị.]

[2] Theo thống kê mới đây, trong số 717 đan viện theo Hiến Pháp 1991, có 553 [77%] đan viện đã gia nhập Liên Hiệp, và 164 [23%] đan viện chưa gia nhập.

[3] Xem CO 86: “để các đan viện vốn có chung một đặc sủng không bị cô lập nhưng duy trì đặc sủng ấy trong lòng trung tín và sống sự hiệp thông là một giá trị vô song, nhờ việc tương trợ trong tình huynh đệ.”

[4] “Por eso traemos todas un hábito, porque nos ayudamos unos a tros, pues lo que es de uno es de todos, y harto da el que da todo cuanto quede.”

[5] CO 78: “Về phần các nữ đan viện được liên kết theo pháp lý, phạm vi và phương thức thực hiện việc giám sát bởi vị Bản quyền Dòng được quy định trong Hiến pháp riêng, được Toà thánh phê chuẩn, trong đó cần phải xác định những quyền lợi và nghĩa vụ của Bề trên liên kết và của nữ đan viện được liên kết, dựa theo linh đạo và truyền thống riêng.”

[6] Sponsa Christi, Điều VII, triệt 2, 2: “….”

[7] Hiến Pháp Dòng Cát Minh số 45: “Như ‘những người con đích thực của Hội Thánh’, các đan nữ Cát Minh Cải Tổ sẽ sẵn sàng đón nhận những gì Hội Thánh dạy qua thừa tác vụ và quyền bính hợp pháp. Họ hân hoan vâng phục Đức Giáo Hoàng như vị Bề Trên tối cao của họ nhân danh lời khấn vâng phục.”

[8] “Liên Hiệp được tạo thành bởi một số đan viện tự trị giống nhau về tinh thần và truyền thống, và tuy không nhất thiết được định hình theo tiêu chuẩn địa lý, nhưng nếu có thể được chúng không nên cách nhau quá xa về địa lý”.

[9] Thực tế, điều này đã có trong Sponsa Christi, điều VII, 8,1.

[10] Tôi cho các chị một ví dụ: Huấn Thị không hề gây ra bất kỳ sự xung khắc nào giữa trách vụ của Chủ Tịch Liên Hiệp và trách vụ của Bề Trên. Tuy nhiên, Huấn Thị trao một vai trò quan trọng cho vị Bề Trên cộng đoàn Cát Minh Têrêsa, điều này chắc chắn là thích đáng nếu hai chức vụ này được tách biệt.

[11] Xem Các nguyên tắc Liên Hiệp các Dòng Tu năm 1974, số 1.

[12] Vì thế, Hiến Pháp Dòng Cát Minh Nữ số 253 cũng bị thay đổi.

[13] Lời này phù hợp với điều mà Mẹ Thánh Têrêsa viết cho các nữ tu tại Valladolid đã được đề cập đến ở đầu lá thư.

[14] Giáo Luật điều 628, triệt 2, 2: “Giám Mục Giáo Phận có quyền và có bổn phận phải kinh lý các đan viện tự trị được nói đến ở điều 615; ngay cả trong phương diện kỷ luật tu trì.

[15] Hiến pháp Dòng số 244, 245.

[16] Cần có sự ưng thuận của ban Cố Vấn: trong việc lựa chọn (hay cách chức) chị Huấn Luyện của Liên Hiệp (CO 129, 148); trong việc ban phép sống ngoại vi viện năm thứ hai và năm thứ ba, và cho việc thỉnh cầu về khả năng gia giạn về điều này (CO 130-131, 178); trong việc triệu tập Hội Đồng Liên Hiệp Ngoại Thường (CO 137). Trong trường hợp Liên Hiệp thành lập đan viện mới thì cần phải có sự ưng thuận của ban Cố Vấn cho việc chấp nhận cho các ứng sinh vào nhà tập, tập sinh được khấn tạm và khấn sinh được khấn trọng thể (CO 35); trong quyết định thiết lập theo giáo luật một đan viện tự trị sui juris (CO 39). Trong trường hợp một đan viện kết nạp (tháp nhập) vào Liên Hiệp, phải có sự ưng thuận của Ban cố vấn trong việc chỉ định làm Bề Trên nhà của đan viện kết nạp (CO 59) và cho việc chấp nhận các ứng sinh tiến lên các giai đoạn cao hơn trong đào tạo (CO 61).

[17] CIVCSVA, Economy at the Service of the Charism and Mission, số 66.

[18] Sponsa Christi, Điều VII, triệt 7: “…”

[19] Trong Hiến Pháp Dòng nữ Cát Minh Chân Không, số 207, quy định rằng, vị Bề trên nhà được nói đến như người Đại diện, được bổ nhiệm bởi Bề Trên của Đan Viện (là Giám Mục hoặc Bề Trên Dòng).

[20] Hiến Pháp Dòng nữ Cát Minh Chân Không, số 205, chỉ ra 8 nữ tu, trong đó phải có 6 nữ tu là thành viên của Hội Đồng Đan Viện.

[21] Các tiêu chuẩn định giá được trình bày ở số 70 CO: “số các đan sĩ, tuổi cao của đa số thành viên, năng lực thực sự để điều hành và huấn luyện, thiếu ơn gọi trong nhiều năm, thiếu sinh lực để sống và chuyển giao đặc sủng nhờ lòng trung tín năng động.”

[22] CO phát biểu về sự ưng thuận “của Ban Cố Vấn và của Hội Đồng Đan Viện”, nhưng dựa trên số 253 của Hiến Pháp dòng Nữ Cát Minh chân không, đó là Hội đồng đan viện phải ưng thuận.

[23] Huấn Thị được ban hành bởi Đức Thánh Cha, nhắc lại sự phân biệt giữa nội vi giáo hoàng và nội vi hiến định, và giữa nhiều hình thức của nội vi hiến định, Huấn Thị nói đến điều được gọi là nội vi đan tu (CO 211). Điều này cũng được nhắc trong VDQ điều số 10 về khả năng một đan viện có thể xin Toà Thánh giữ một hình thức nội vi khác với quy định của Dòng, điều này hợp pháp “sự đa dạng trong cách thức tuân giữ nội vi trong cùng một Dòng Tu” (VDQ 31)

[24] Đường Hoàn Thiện, Chương 4, đoạn 1.

[25] VDQ điều 3 triệt 1; điều 6 triệt 1; điều 7 triệt 2; điều 13.

[26] J. Rodríguez Carballo, Vultum Dei Quaerere: una opportunità per crescere nella fedeltà creative e responsabile, LEV, Cillà del Vaticano 2017, p.62.

[27] Huấn Thị nói đến số 15 của VDQ, tuy nhiên, ở đây điều ấy được phát biểu theo sắc thái: “việc huấn luyện sơ khởi và sau khấn tạm nên ‘dành khoảng thời gian rộng rãi’, không dưới 9 năm và không kéo dài quá 12 năm.”

[28] Trong phần phụ lục của lá thư này, chị em sẽ thấy bảng so sánh giữa Hiến Pháp và Huấn Thị Cor Orans mà tôi đã đánh dấu các điều khoản cần phải được duyệt xét lại. Tôi không đưa những điều luật quy định mới của Huấn Thị vào, vì chúng không tương ứng với các điều khoản trong Hiến Pháp [ví dụ như: việc sáp nhập, các Liên Hiệp, v.v…]

[29] HP số 17: “Giải thích chính thức Luật và HP hiện hành, huỷ bỏ, chế giảm hay đưa vào một thay đổi nào, đều tuyệt đồi thuộc thẩm quyền Toà Thánh.”

 

2 thoughts on “Lá Thư Của Cha Tổng Quyền Về Việc Áp Dụng Huấn Thị Cor Orans

    • 24 Tháng Tám, 2018 at 7:14 chiều
      Permalink

      Chúng em sẽ cầu nguyện cho các Chị. Thật bất ngờ là chúng ta có các chị em đang tu bên Đan Mạch. Nếu có thể thì Chị viết cho em đôi dòng giới thiệu về hai chị và Đan Viện của các chị bên Đan Mạch, kèm thêm một số hình ảnh để em đăng lên trên trang web này.

      Cảm ơn chị rất nhiều.

      Chúc các chị được tràn đầy ơn Chúa và niềm vui trong ơn gọi tận hiến!

      Anh em Cát Minh Việt Nam

      Reply

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *