Suy Niệm Lời Chúa – Chúa Nhật Mừng Đại Lễ Phục Sinh

Suy Niệm Lời Chúa: Gioan 20, 1-9 (Thánh Lễ Chính Ngày Đại Lễ Phục Sinh)

Chắc hẳn, nhiều người trong chúng ta vẫn còn nhớ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng và ly kỳ mang tựa đề ‘the Da Vinci Code – Mật Mã Da Vinci” của Dan Brown, một cây viết truyện tiểu thuyết và khoa học viễn tưởng nổi tiếng thế giới. Cuốn tiểu thuyết này được phát hành vào năm 2003 và sau này được dựng thành phim và công chiếu vào năm 2006 .

Những gì Dan Brown viết trong Da Vinci Code là một tiểu thuyết, một câu chuyện tưởng tượng, thì đương nhiên là nó không có thật, nó thường cũng không nhất thiết phản ánh đúng đắn một sự thật lịch sử hay đầy đủ các luận chứng về cơ sở khoa học. Thế nhưng nó lại có sự thành công lớn vào thời điểm đó.

Cuốn tiểu thuyết thậm chí đã được ở xếp vị trí số 1 trong số các cuốn sách bán chạy nhất trên tờ New York Times ngày 6/4/2003 và tiếp tục nằm trong danh sách này trong suốt 104 tuần sau đó, trong đó 51 tuần ở vị trí số 1 và những tuần còn lại không bao giờ xuống dưới vị trí thứ 5. Hơn 80 triệu ấn phẩm được bán ra năm 2009 và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ khác nhau.

Như thế dưới cái nhìn của độc giả, Dan Brown đã được xem là rất thành công với ‘Mật Mã Da Vinci’, thành công đến mức ông phải luôn  chạy trốn những đám đông bủa vây ông để xin chữ ký. Nhưng cũng chính ông đã thành thật chia sẻ: “Tôi không biết làm sao để tránh được những phiền toái do sự nổi tiếng đem đến. Tôi chỉ đơn thuần viết một cuốn tiểu thuyết, thế mà mỗi khi tôi xuất hiện ở nơi công cộng là tất cả cứ nhốn nháo lên”. Dan Brown trở nên nổi tiếng và có nguồn thu khổng lồ, vì, như một người từng nói “ông có một câu chuyện để ‘bán’ vì ông có một câu chuyện để kể”.

Nếu nhìn theo góc độ của một người viết lách, một người kể chuyện này, thì các Tông Đồ của Chúa Giê-su ngày xưa sẽ chẳng có câu chuyện gì quá hấp dẫn để kể và để viết lại về Thầy mình.

Thầy Giêsu của họ đã hứa nhiều thứ với họ. Người nói: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau.” (Mc 10: 29-30). Ấy thế nhưng, thầy đã làm họ phải thất vọng. Khi chính thầy cũng chẳng cứu nổi lấy mạng sống của mình. Thầy nói thầy là Đấng Mêsia, thế mà hôm nay lại chết chung với hai tử tù trên thập giá. Ba năm trời, các ông đã tin tưởng vào lời của người mà trở nên môn đệ của thầy.

Ôi thật là một sự lãng phí thời gian và công sức! Và bây giờ, thân xác của thầy thì chôn trong mồ đá, có quân lính canh chừng. Họ chẳng biết làm gì hơn là quay trở lại với nghề cũ của mình mà quên đi những gì đã xảy ra ba năm nay.

Đó, họ đâu có gì để mà kể lại cho người khác nghe, chứ đừng nói là ‘bán’ những câu chuyện ấy để kiếm tiền như Dan Brown. Vào thời điểm của họ, Kinh Thánh nói có rất nhiều người tự xưng mình là đấng Mêsia, nhiều lắm. Thầy Giêsu chỉ là một trong những trường hợp đó, chẳng có gì mới mẻ và hay ho cả.

Các môn đệ của người cũng đã bỏ chạy khi người bị bắt. Không một kẻ nào dám đứng bên cạnh thầy mình, tất cả đều biến mất. Thế nhưng, chiều ngày hôm ấy, khi các ông tụ họp trong một căn phòng nhỏ, đóng chặt cửa vì sợ người Do Thái sẽ tìm bắt. Thánh Mác-cô nói còn cho ta biết các ông ‘đang buồn khóc’ (Mc 16:10) vì thầy mình đã chết. Thì rồi một chuyện lạ đã xảy ra. Thầy Giêsu của họ bỗng dưng xuất hiện, chào các ông và còn cho họ xem những vết thương trên cơ thể mình. Ôi, nghe như đây là khởi đầu của một câu chuyện tuyệt vời! Nó có thể như một quả bom nổ giữa sự yên ắng của buổi chiều tà, nó là câu chuyện thầy Giêsu sống lại từ cõi chết.

Nhưng thực ra, đây cũng không phải là một câu chuyện, càng không thể dùng nó để ‘bán’ kiếm tiền. Trong Tin Mừng của mình, các thánh sử cho ta thấy sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, bà Maria Mác-đa-lê-na cùng các bà khác âm thầm ra viếng mộ Chúa. Các bà không nói cho ai biết cả vì sợ hãi. Vậy thì câu chuyện của các bà cũng chẳng đáng để kể và để ‘bán’. Tóm lại, câu chuyện thầy Giêsu sống lại từ cõi chết, đơn giản chỉ là một câu chuyện không ai mong đợi. Một câu chuyện không cần thiết. Một câu chuyện không thể xảy ra. Một câu chuyện không đáng để vỗ tay khi nghe. Và là một câu chuyện không mang lại ích lợi gì… Vậy thì làm gì người ta phải quan tâm tới câu chuyện của một người tự chuốc vào mình những đau khổ và cái chết nhục nhã như vậy?

Tại sao người ta phải bận tâm với câu chuyện nghe có vẻ huyền bí, xa vời, lố bịch và rẻ tiền như thế? Trừ phi, họ có thể đưa ra được những bằng chứng xác đáng và không thể chối cãi được. Xin thưa vì, câu chuyện Thầy Giêsu sống lại là một câu chuyện không được mong chờ. Ngay chính các môn đệ của Thầy Giêsu cũng đã không nghĩ là thầy mình sẽ sống lại từ cõi chết. Họ vẫn chưa chuẩn bị tâm lý để đón nhận điều ấy. Vì khi thầy còn ở với họ, đã hơn một lần, thầy báo trước cho họ về việc thầy sẽ bị bắt và bị giết, nhưng thầy sẽ sống lại vào ngày thứ ba. Họ lắng nghe nhưng không hiểu, lại không chấp nhận và còn trở nên buồn sầu. Họ thắc mắc nhiều về điều ấy, nhưng họ không dám hỏi cho cặn kẽ, vì họ sợ.

Thế nên, không phải vì khi họ đang mong đợi phép lạ sẽ xảy ra, mà nó lại không xảy ra. Để rồi, họ đã dựng nên câu chuyện hoặc tự lừa dối chính mình để tin rằng điều đó là sự thật và thuyết phục người khác cũng tin là như vậy. Nhưng rồi câu chuyện lại xảy ra hoàn toàn trái ngược. Khi họ không dám nghĩ phép lạ sẽ xảy ra, thì nó lại diễn ra trước mắt họ. Khi thấy các bằng chứng không thể chối cãi về sự Phục Sinh của thầy mình, họ đã phải tin nhưng chưa hoàn toàn.

Ví như, khi họ nghe bà Maria Mác-đa-lê-na và các phụ nữ nói, họ đã gặp Chúa Giêsu, Người đã sống lại thì họ vẫn nghi ngờ. Hay ngay cả bằng chứng của hai môn đệ trên đường E-mau cũng thế, họ cũng chưa chắc chắn là thầy mình đã sống lại và hiện ra với họ. Để rồi, thầy đã phải than phiền về họ như thánh Mác-cô nói: “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng” (Mc 16:14). Hay như thánh Mát-thêu nói, “Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28: 16-17).

Thế đó ,cả ngay khi chính mắt họ được thấy Thầy mình đã phục sinh và hiện ra với họ, nhiều người trong số họ thoạt đầu vẫn không tin. Hay đúng hơn, là từ chối tin vào sự Phục Sinh của Thầy mình. Và có thể nói, sự Phục Sinh của Chúa Giêsu đã không được mong chờ. Câu chuyện về sự sống lại của Đức Giêsu còn là câu chuyện không cần thiết. Vì người Do Thái vào thời của Người vẫn chưa hoàn toàn tin vào sự sống lại của thân xác. Trong thực tế, một số người Do Thái tin rằng, chỉ vào ngày Sau Hết Thiên Chúa sẽ cho người ta sống lại, nhưng phải là ngày Sau Hết và cho tất cả dân của Người chứ không phải bất cứ cá nhân ngoại lệ nào.

Bên cạnh đó, lại có những người như nhóm Sa-đốc không tin có sự sống lại. Nếu người Do Thái có niềm tin rất hạn chế về sự sống lại, thì người Hy-lạp và Rôma thì lại hoàn toàn từ chối niềm tin vào sự sống lại. Thế nên, nếu các Tông Đồ và các Tín Hữu sơ khai đã dựng nên câu chuyện về việc thầy của họ đã sống lại từ cõi chết với hy vọng sẽ lôi kéo ‘dân ngoại’ tin theo thầy mình, thì là một trò lố bịch, không cần thiết.

Thế nhưng lịch sử Giáo Hội Công Giáo đã xem Sự Sống Lại của Chúa Giêsu như là cốt lõi của Đức Tin ngay từ thưở ban đầu. Câu chuyện về sự Sống Lại của Chúa Giêsu còn là một câu chuyện không đáng để vỗ tay. Sẽ không có một ai dễ dàng tin vào lời của các Tông Đồ, khi họ loan báo Chúa Giêsu đã sống lại với bằng chứng là ngôi mộ trống. Bởi lẽ, vào thời Cổ Đại, các ngôi mộ thường bị đột nhập và chính xác người chết đôi khi cũng bị đánh cắp. Ngay chính các Thượng Tế cũng lo sợ các môn đệ sẽ đánh cắp xác thầy của họ, nên đã xin Phi-la-tô cho lính canh gác tại cửa mộ sau khi đã đóng kín bằng phiên đá lớn.

Vì thế các môn đệ không thể dễ dàng mà đánh cắp xác thầy mình. Mà cũng chính vì thế, không phải dễ dàng để đặt nền tảng Đức Tin của hàng tỷ người trên thế giới hôm nay trên nền móng của một sự lừa dối. Rất ít người sẵn sàng chết cho sự thật, vậy sẽ có bao nhiêu người dám chết vì một sự dối trá – đặc biệt khi họ biết rằng điều đó là thực sự là lừa dối? Hơn hết, khi cả thành phố Giê-ru-sa-lem đang ồn ào vì tin tức Giêsu đã sống lại sau ba ngày bị đóng đinh và chôn cất. Quân đội hay các Thượng Tế có thể dễ dàng vạch trần tin vịt đó và làm cho mọi người im lặng bằng một cuộc điều tra, tìm kiếm xác ông Giêsu, hay ít nhất là xương cốt của ông chứ.

Vào thời xưa, thường người ta chôn cất người chết với hai giai đoạn. Trước họ sẽ tẩm liệm xác chết với các thảo dược rồi dùng khăn vải mà bó xác chết lại để tránh gây mùi hôi thối khi nó phân huỷ. Sau khi xác đã phân huỷ, người ta sẽ cung kính chuyển các xương của người chết vào bình đựng hài cốt rồi chôn cất. Chính ông Giuse Arimathea đã làm táng xác Chúa Giêsu theo truyền thống này. Thế nhưng, từ đó đến nay chưa một ai đặt câu hỏi về giai đoạn thứ hai, cải táng và chôn cất cốt của Chúa Giêsu. Cho tới hiên tại cũng chẳng nghe có ai tìm thấy hay tôn kính Thánh Tích của Chúa Giêsu cả! Có thể các Tông Đồ và các môn đệ chỉ bị ảo giác hay tưởng tượng, hoặc có thể đã gặp ma! Nhưng ảo giác, hay tưởng tượng và nhất là gặp ma thì đâu có bao giờ xảy ra cùng một lúc cho 500 người.

Nếu họ gặp ma hay bị ảo giác, thì họ đâu có cơ thể mà đụng chạm vào, hay ăn uống trước mắt họ. Chúa Giêsu Phục Sinh đã ở lại xung quanh họ tới sáu, bảy tuần lễ trước khi về trời. Câu chuyện Chúa Giêsu phục sinh là một câu chuyện vô ích. Câu chuyện này không thể ‘bán’ được. Các Tông Đồ đã không thu lợi được gì khi kể câu chuyện này. Hơn nữa, khi công bố về sự Phục Sinh của thầy mình, họ đã bị bắt bớ, đánh đập và tù đày bởi người Do Thái và quân đội Rôma. Hầu như tất cả các Tông Đồ bị chết vì những gì họ đã tin và rao giảng. Mát-thêu đã bị đâm chết tại Êthiopia. Mác-cô đã bị lôi kéo trên đường phố của Alexandria rồi bị giết. Luca thì bị treo cổ trên cành Ô liu cho tới chết. Gioan thì bị lưu đày cho tới hơi thở cuối cùng ở đảo Patmos. Phê-rô thì bị đóng đinh ngược tại Rôma. Gia-cô-bê thì bị chém đầu tại Giê-ru-sa-lem. An-rê thì bị đóng đinh vào khổ giá hình chữ X. Tôma đi xa tới tận Ấn Độ rao giảng và bị bắt, rồi bị đâm chết bởi cây thương gần Madras. Jude thì bị bắn chết bởi các mũi tên. Matthia thì bị chém đầu. Ba-na-ba bị ném đá cho tới chết. Phao-lô thì bị tra tấn và cuối cùng bị chém đầu tại Rôma.

Các môn đệ của Chúa Giêsu đã sẵn sàng hy sinh tính mạng mình đễ kể lại câu chuyện của họ. Bởi vì chuyện của họ là có thật. họ đã không thể ‘bán’ câu chuyện của mình vì nó giá trị hơn những gì thế gian có thể trả. Nhưng nó xứng đáng để họ phải đổ máu mà làm chứng. Vì thế câu chuyện họ kể đáng để chúng ta sống và tiếp tục kể.

Câu kết trong bài Tin Mừng mà thánh Gioan nói với chúng ta hôm nay là: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” (Gioan 20:30-31). Các môn đệ của Chúa Giêsu đã thấy và họ đã tin. Nhưng phúc cho ai không thấy mà tin. Amen.

J.J. Duong,OCD

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *