Lòng Chúa Thương Xót Theo Kinh Nghiệm Của Thánh Têrêxa Avila

 

LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT THEO KINH NGHIỆM CỦA THÁNH TÊ-RÊ-XA AVILA

Lm. F.X. Nguyễn Quách Tiến, OCD

Ngày 30 tháng 4 năm 2000 thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập đại lễ kính Lòng Chúa Thương Xót trong dịp phong hiển thánh cho nữ tu Faustina Kowalska. Chị là người đã được Chúa cho cảm nghiệm một cách sâu xa Lòng Thương Xót của Ngài, nhờ đó chị đã can đảm làm chứng và loan truyền không mỏi mệt Lòng Chúa Thương Xót cho tất cả mọi người. Và cứ thế hằng năm vào ngày Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh Giáo hội lại cử hành đại lễ này.

Giáo hội qua lời mời gọi của các vị mục tử dạy bảo chúng ta rằng: Chúng ta cần phải liên tục chiêm ngắm mầu nhiệm của lòng thương xót. Đó là suối nguồn của niềm vui, sự thanh thản và bình an. Ơn cứu rỗi của chúng ta phụ thuộc vào đó. Lòng Thương Xót: là từ ngữ mạc khải các mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi. Lòng Thương Xót: là hành động cuối cùng và tối thượng qua đó Thiên Chúa đến gặp chúng ta. Lòng Thương Xót: là luật cơ bản ngự trị trong con tim của mỗi con người đang nhìn chân thành vào đôi mắt của anh chị em mình trên đường đời. Lòng Thương Xót: là cầu nối liên kết giữa Thiên Chúa và con người, trong khi mở lòng chúng ta ra cho một niềm hy vọng được yêu thương mãi mãi bất chấp tội lỗi ngập tràn của chúng ta” (Tông chiếu Misericordiae VultusKhuôn mặt của Lòng thương xót, 2).

Cách đây đã hơn 500 năm thánh nữ Tê-rê-xa Avila (1515-1582), nhà Thần nhiệm, Tiến sĩ Hội thánh, cũng đã kinh nghiệm về những điều Đức thánh cha nói trong đoạn văn vừa được trích dẫn trên đây. Chúng ta sẽ tìm hiểu về kinh nghiệm đó của ngài trong bài chia sẻ này mới mục đích giúp chúng ta chuẩn bị cử hành đại lễ Lòng Chúa Thương Xót sắp tới một cách xứng đáng và để cho những ơn ích chúng ta nhận được sinh hoa kết trái trong cuộc sống của mỗi người, đặc biệt trong bối cảnh xã hội toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Bài chia sẻ đơn sơ này gồm những phần sau. Trước kết chúng ta sẽ tìm hiểu một cách ngắn gọn bối cảnh tôn giáo vào thời của thánh nữ. Sau đó chúng ta sẽ bàn đến kinh nghiệm của thánh nữ về Lòng Chúa Thương Xót được ngài ghị lại trong các tác phẩm của mình. Cuối cùng chúng ta sẽ bàn đến những hiệu quả của kinh nghiệm về Lòng Chúa Thương Xót nơi con người và trong cuộc sống của ngài.

BỐI CẢNH TÔN GIÁO THỜI THÁNH TÊ-RÊ-XA AVILA

Thánh nữ Tê-rê-xa Avila sống vào thế kỷ 16. Đó là thời kỳ xuất hiện những cuộc cải cách mạnh mẽ trong Giáo hội, cách riêng trong các Dòng tu với những đặc điểm sau: Thứ nhất những cuộc cải cách đó nhắm đến việc trở về nguồn gốc và lý tưởng ban đầu đã bị phai nhạt do việc giảm nhẹ các bộ luật tiên khởi. Dấu chỉ của sự trở về là sự nhiệm nhặt, khắc khổ. Sự nhiệm nhặt khắc khổ đó được thể hiện cụ thể nơi việc xây cất mang tính nghèo khó; cư ngụ ở những nơi hẻo lánh xa xôi tách biệt; tu phục đơn sơ khó nghèo như nhà nông; chân không mang giày như là dấu chỉ của sự khổ chế; kỷ luật thân xác, chay tịnh, hãm mình phạt xác, đánh tội; giữ thinh lặng, canh thức cầu nguyện lâu giờ.

Một ví dụ điển hình của sự khổ chế ấy là thánh Phê-rô Alcantara, tu sĩ Dòng Phan-xi-cô mà thánh nữ đã thuật lại trong Tác phẩm Tiểu Sử Tự Thuật của mình (x. Tự Thuật 27, 16-18; 35, 1-2). Mục đích của khổ chế, hãm mình phạt xác là để làm đẹp lòng Chúa nhờ đó được Thiên Chúa đoái thương ban ơn và giải thoát, cùng tránh được các hình phạt do tội lỗi gây ra. Điều này được xây dựng trên một đặc điểm thứ hai. Đó là hình ảnh, quan niệm về Thiên Chúa thời đó. Thời đó người ta tin và cảm nghiệm Thiên Chúa như là một Đấng phát xét công minh và nghiêm khắc. Ơn cứu độ chỉ có thể đạt được nhờ những nỗ lực và công trạng của con người. Ngoài ra việc hãm mình phạt xác đền tội cũng còn có mục đích để gây ấn tượng với những ai mà họ gặp gỡ. Tất cả đều qui về cái tôi cùng với những công trạng của mình.

Thánh nữ Tê-rê-xa Avila thời gian đầu cũng có một quan niệm như thế về Thiên Chúa. Ngài chưa hiểu và cảm nghiệm được Thiên Chúa như là Thiên Chúa của lòng thương xót, Thiên Chúa của tình yêu. Đó là lý do tại sao thánh nữ cho biết động cơ, lý do khiến ngài đi tu dâng mình cho Chúa không phải vì lòng yêu mến nhưng là để tránh khỏi phải xa hỏa ngục, khỏi vào lửa luyện tội. Thánh nữ đã thuật lại điều ấy như sau:

“Tôi chỉ lưu lại nhà chú tôi ít ngày, nhưng bởi đọc và nghe lời Chúa và được tiếp xúc với Ngài chú thánh thiện, tôi đã có những cảm nghĩ sâu đậm và tôi bắt đầu hiểu chân lý mà tôi đã đọc từ ngày còn nhỏ rằng mọi sự chỉ là hư không, thế gian là phù ảo và mau qua. Tôi bắt đầu run sợ nếu cơn bệnh làm tôi chết, tôi sẽ phải xuống hoả ngục. Dẫu vậy, tôi vẫn không thể quyết định sẽ đi tu, dù tôi thấy tu là nếp sống tốt nhất và bảo đảm nhất. Nhưng cũng nhờ những nhận định ấy mà lần lần tôi cương quyết thắng mình để theo đuổi nếp sống tu trì. Tình trạng giằng co này kéo dài trong ba tháng. Sau đây là những lý lẽ tôi dùng để thuyết phục chính mình. Khi tôi đã thật xứng đáng bị đẩy xuống hoả ngục, mà những thử thách và đau khổ trong đời tu không thể nặng nề hơn những cực hình trong luyện ngục, thì sống nếp sống như một thứ luyện ngục đó có đáng là gì, nếu tôi mong ước, sau đó tôi được bay thẳng lên thiên đàng. Lý do làm tôi quyết định sống đời sống tu trì là sự sợ hãi đê hèn hơn là vì yêu mến Thiên Chúa. Ma quỉ gợi cho tôi rằng tôi không đương đầu nổi với những thử thách khó khăn của đời sống tu trì đâu, vì tôi đã quen được chiều chuộng. Tôi chiến đấu với tư tưởng này bằng cách nhớ lại những hình khổ Chúa Kitô đã chịu và tôi chịu một chút vì mến Ngài thì có là gì quá đáng. Tôi phải nghĩ rằng Chúa sẽ giúp tôi chịu đựng những khó khăn ấy, nhưng tôi không nhớ rõ lúc bấy giờ tôi có nghĩ như thế hay không. Quãng thời gian ấy tôi gặp rất nhiều cám dỗ” (Tự Thuật 3, 5-6).

Thế nhưng, dần dần Thiên Chúa đã mạc khải khuôn mặt đầy lòng thương xót của Ngài cho thánh nữ nhờ việc chiêm ngắm Đức Giê-su Ki-tô con của Ngài, đặc biệt nhờ chiêm ngắm mầu nhiệm thương khó, tử nạn và phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô. Khi chiêm ngắm như vậy, hình ảnh của thánh nữ về Thiên Chúa đã được thay đổi. Ngài viết:

“Khi ấy linh hồn tôi đã mệt mỏi chán nản và muốn được nghỉ ngơi, nhưng vì đã làm nô lệ cho các tập quán khốn nạn, nên cũng không được an nghỉ. Vậy xảy ra một hôm, khi bước chân vào nhà nguyện, tôi trông thấy pho tượng mà các chị đưa đến để trưng bày vào một dịp lễ vẫn được mừng kính trong tu viện. Tượng Chúa Kitô chi chít những vết thương đau đớn. Pho tượng có sức khơi dậy lòng sốt sắng đến nỗi vừa nhìn thấy, tôi xúc động mãnh liệt vì nhìn thấy Ngài chịu đau đớn khủng khiếp. Pho tượng phô diễn thật sống động những cực hình Ngài đã chịu vì chúng ta. Nghĩ lại tôi đã đền đáp Đấng đã chịu những vết thương này cách quá tệ bạc, tôi đau đớn quá sức đến nỗi tôi cảm thấy tim tôi dường như tan vỡ ra. Tôi liền quì sụp xuống bên Ngài, khóc thảm thiết và tôi van xin Ngài ban cho tôi sức mạnh để từ nay tôi không còn xúc phạm đến Ngài nữa…Tôi đặt mình ngồi dưới chân Ngài, và nghĩ rằng Chúa không khinh chê suối nước mắt của tôi. Tôi không biết tôi đã nói gì, nhưng khi ban cho tôi khóc nhiều như vậy. Chúa đã tỏ ra rất nhân hậu đối với tôi, vì tức khắc tôi đã quên đi nỗi đau đớn của tôi” (Tự Thuật 9, 1-2).

Sau kinh nghiệm đó, Thiên Chúa mà thánh nữ tin yêu tôn thờ giờ đây không còn là một Thiên Chúa mà tình yêu của Ngài cần phải chiếm được bằng những nỗ lực của cá nhân, bằng những công trạng riêng mà là một Thiên Chúa luôn đi bước trước để ban ơn, để trợ giúp vì sự trung tín với chính bản thể của Ngài, bởi Ngài là Tình Yêu, bất kể chúng ta là con cái của Ngài thế nào, bất kể tình trạng luân lý của chúng ta ra sao. Chúng ta có thể gặp gỡ và làm vui lòng Chúa không phải vì công trạng của chúng ta nhưng là vì lòng tin tưởng và phó thác của chúng ta đối với Ngài. Qua các tác phẩm của thánh nữ, chúng ta có thể khám phá ra rằng Thiên Chúa không đi theo sau chúng ta để ban thưởng cho những công trạng của chúng ta và đưa ra hình phạt cân xứng cho những tội lỗi của chúng ta nhưng Ngài đi trước chúng ta để mở đường cho yêu thương và lòng thương xót, để đưa chúng ta vào trong mối tương giao thân tình phụ tử, ban ân sủng để giúp chúng ta có khả năng đáp lại tình yêu của Ngài tùy vào sự mở lòng đón nhận của mỗi cá nhân chúng ta.

KINH NGHIỆM CỦA THÁNH NỮ VỀ LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

Những đoạn trích dẫn trên đây đã cho chúng ta thấy được một chút kinh nghiệm của thánh nữ Tê-rê-xa Avila về Lòng Chúa Thương Xót. Chúng ta có thể khẳng định rằng lịch sử cuộc đời của thánh nữ chính là lịch sử của kinh nghiệm về lòng thương xót của Chúa. Vì thế các cha giải tội khi yêu cầu thánh nữ viết cuốn Tiểu Sử Tự Thuật, họ đã yêu cầu ngài viết về những hồng ân Chúa ban cho ngài vì lòng thương xót của Chúa thay vì viết về các tội thánh nữ đã phạm và đã làm buồn lòng Chúa. Thánh nữ viết: “Vì tôi được lệnh và được hoàn toàn tự do trình bày về phương pháp cầu nguyện của tôi và về những hồng ân Chúa đã ban cho tôi, thì tôi ước ao cũng được phép trình bày rõ ràng và chi tiết những trọng tội và cuộc sống khốn nạn/tồi tệ của tôi” (Tự Thú, Mở đầu 1).

Sau này trong một lá thư gởi cho Đức giám mục Pedro de Castro y Nero, thánh nữ đã khẳng định với ngài rằng cuốn Tiểu Sử Tự Thuật là cuốn sách về Lòng Thương Xót của Chúa (x. Thư 415) và có vô vàn lý do để ngài đời đời ca tụng lòng Thương Xót Chúa (x. Tự Thuật 14, 10).

Thánh nữ kinh nghiệm về lòng thương xót của Chúa nơi những biến cố, sự việc rất cụ thể mà Chúa đã thực hiện trên cuộc đời của ngài kể từ tuổi thơ ấu cho đến cuối đời. Thiên Chúa đã can thiệp vào cuộc đời của ngài, hoạt động trên cuộc đời của ngài bằng việc ban cho ngài muôn vàn ân sủng “không phải vì công nghiệp của chúng ta” nhưng là một cách nhưng không đặc biệt nơi những kinh nghiệm về đời sống thần bí cao siêu, cho dù nhiều lần ngài “rất cứng đầu và vô ơn” (x. Tự Thuật 8, 1). Tuy nhiên sau đó, thánh nữ luôn ý thức và tạ ơn vì những ân huệ mà Chúa ban cho ngài. Thánh nữ viết:

“Vậy hãy gắng hiểu cho rõ, hiểu rất tường tận tư tưởng đó đúng hay sai như thế nào. Thiên Chúa ban những hồng ân này không phải vì công nghiệp của chúng ta. Chúng ta hãy tạ ơn Ngài vì đã ban các ơn đó. Vì nếu không nhận ra mình lãnh nhận các ơn đó thì không có gì để gợi cho chúng ta tâm tình biết ơn và kính mến Ngài cả. Một điều khá chắc chắn là nếu chúng ta luôn biết mình nghèo nàn, chúng ta càng thấy mình được giàu có hơn, sẽ thấy những ơn huệ Chúa ban càng trọng đại hơn và lòng khiêm tốn của chúng ta càng chân thành hơn. Linh hồn hay sợ sệt, nghĩ mình không có khả năng tiếp nhận những hồng ân trọng đại, thì kết quả sẽ là khi Chúa ban các ơn đó, linh hồn sẽ càng sợ hãi hơn, vì nghĩ mình đang rơi vào thứ vinh quang hão huyền. Hãy tin rằng, từ khi ma quỉ khởi sự cám dỗ chúng ta về điều này, thì Đấng ban cho chúng ta các ơn của Ngài, cũng sẽ thực hiện điều này nếu chúng ta sống đơn sơ trước mặt Ngài và cố gắng làm hài lòng chỉ một mình Ngài thôi, chứ không phải phàm nhân nào cả. Một chân lý rất hiển nhiên là khi yêu ai nhiều, chúng ta sẽ nhớ rất rõ những hành động Ngài ấy đã thực hiện cho chúng ta. Vậy nếu chúng ta nhớ chính Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta từ hư vô và đã ban cho chúng ta một bản thể và Ngài hằng bảo tồn bản thể ấy cho chúng ta. Nếu chúng ta nhớ từ thuở xa xưa, trước khi tạo thành chúng ta, Ngài đã chuẩn bị cho mỗi Ngài chúng ta đang sống đây, tất cả những hồng ân khác nữa nhờ sự đau khổ và cái chết của Ngài, là điều hợp lý, thì tại sao tôi lại không tìm hiểu, không nhận ra và suy đi xét lại rằng, dầu đã có một thời tôi chỉ vui thích nói đến những chuyện huyền hoặc, mà nay Chúa đã ban cho tôi lòng khao khát chỉ muốn nói với một mình Ngài?” (Tự Thuật 10, 4-5).

Trước hết, thánh nữ cảm nghiệm về lòng thương xót của Chúa được thể hiện nơi lòng nhân hậu và sự tốt lành của Ngài. Sự vĩ đại của lòng thương xót được bày tỏ, được thể hiện nơi những ân huệ mà ngài nhận được, về những công trình Chúa thực hiện trên cuộc đời của ngài. Nơi những ân huệ đó, thánh nữ cảm nghiệm được sự tự hiến của Thiên Chúa dành cho ngài trong suốt cuộc sống của mình. Thánh nữ ghi lại kinh nghiệm ấy như sau: “Nhiều lúc tôi ngây ngất khi suy nghĩ về lòng nhân hậu dịu dàng của Thiên Chúa và linh hồn tôi hoan hỉ khi nghĩ đến sự cao cả và lòng thương xót vô biên của Ngài. Ước chi thiên hạ chúc tụng tán dương những phẩm tính này của Ngài, vì ngay từ đời này, tôi đã thấy rõ ràng Ngài không bỏ qua mà không ban thưởng về bất cứ ước muốn ngay lành nào của tôi” (Tự Thuật 4, 10). Thiên Chúa mà thánh nữ cảm nghiệm được là một Thiên Chúa trao bao chính mình. Ngài “không từ chối ban thưởng, chẳng những tương xứng mà còn quảng đại nữa vì Ngài luôn ban cho nhiều hơn là chúng ta xứng đáng, bằng cách ban cho sự ngọt ngào thiêng liêng nhiều hơn những ngọt ngào mà ta có thể cảm thấy được từ những vui thú và giải trí trong cuộc sống này” (Lâu đài 3, 2, 9) vì lượng nhân từ của Chúa thì cao siêu và lòng thương xót của Ngài thì vô biên (x. Lâu đài 1, 1, 3).

Trong số muôn vàn hồng ân thánh nữ nhận được do lòng thương xót của Chúa, hồng ân đầu tiên là Thiên Chúa đã khơi dậy trong tâm hồn thánh nữ từ khi còn ở tuổi thơ ấu lòng ao ước về sự sống đời đời, về hạnh phúc thiên đàng, về lòng ao ước được tử đạo để hưởng hạnh phúc thiên đàng:

“Tôi có một người anh gần bằng tuổi tôi, và dù tôi yêu mến tất cả các anh chị, nhưng tôi thương anh này nhất. Chúng tôi thường đọc hạnh các thánh chung với nhau, và khi đọc thấy những hình khổ mà các thánh phải chịu vì Thiên Chúa, tôi thường nghĩ là họ đã mua được phúc hưởng Thiên Chúa với một giá quá rẻ, và tôi ước muốn mãnh liệt được chết như họ, không phải vì tôi ý thức được tình mến đối với Thiên Chúa; nhưng là để mau đạt được hạnh phúc thiên đàng mà tôi đã đọc thấy. Tôi bàn tính với anh ấy xem làm sao chúng tôi có thể chịu tử đạo được. Chúng tôi đồng ý với nhau bỏ nhà, đi đến miền của những người Hồi Giáo, chúng tôi sẽ đi khất thực vì tình yêu Thiên Chúa, để người ta có thể chém đầu chúng tôi ở đó. Ngay ở cái tuổi non dại ấy, dường như Thiên Chúa đã ban cho chúng tôi đủ can đảm để thực hiện ý định này nhưng chúng tôi không tìm được phương tiện. Trở ngại lớn nhất là chúng tôi còn cha mẹ. Chúng tôi rất kinh ngạc khi đọc thấy rằng cả hình khổ cũng như vinh quang đều tồn tại mãi mãi. Chúng tôi thường đàm đạo lâu giờ về sự đời đời, và chúng tôi thích nhắc đi nhắc lại “đời đời – đời đời – đời đời”. Qua việc thường xuyên nhẩm đi nhắc lại những lời này, Chúa đã ban cho tôi những ấn tượng sâu bền về đường chân lý từ những năm thơ ấu của đời tôi” (Tự Thuật 1, 4).

Lòng thương xót của Chúa, lòng nhân hậu và sự tốt lành của Ngài còn được thể hiện nơi những tình bạn lành mạnh, những người bạn nhân đức thánh thiện, cụ thể là các nữ tu, Thiên Chúa gởi đến để giúp thánh nữ thoát khỏi những lầm lạc, thoát khỏi “lối sống phóng đãng” của mình để trở về với Chúa, trở về với nẻo chính đường ngay:

“Tất cả các nữ tu đều hài lòng về tôi vì Chúa đã ban cho tôi ơn biết làm vui lòng mọi người chung sống với tôi và bởi vậy mọi người đều yêu quí tôi. Dầu bấy giờ tôi không hề thích làm nữ tu; nhưng tôi lại rất vui khi thấy các nữ tu sống thánh thiện. Tất cả các nữ tu trong nhà đó đều rất thánh thiện. Đời sống của các chị thật vô phương trách cứ: nhiệt thành tuân giữ kỷ luật, thùy mị, đạo đức, hồi tâm và khôn ngoan trong đường lối xử thế. Dẫu vậy, ma quỉ không ngừng cám dỗ tôi. Các bạn hữu tôi ở bên ngoài gửi thư, tìm cách gây xáo trộn cho tôi. Vì không được phép thư từ liên lạc như thế, nên chẳng bao lâu họ cũng thôi và linh hồn tôi bắt đầu trở lại với những thói quen thánh thiện của thời thơ ấu. Tôi nhận thức được những đại hồng ân Chúa ban cho những ai chung sống với những người nhân đức. Dường như Chúa đã cố gắng và còn đang cố gắng tìm phương thế đưa tôi trở lại với chính Ngài. Lạy Chúa, chúc tụng Chúa, Đấng đã chịu đựng con quá lâu như vậy! Amen” (Tự Thuật 2, 8).

Lòng thương xót của Chúa còn được thể hiện nơi sự trung tín đối với tình thương của Ngài dành cho những người tội lỗi, trong đó có thánh nữ. Ngài cảm nghiện được rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi dân Ngài nhưng xót thương và tha thứ tội lỗi cho họ. Vì thế, với thánh nữ Tê-rê-xa Avila, kinh nghiệm về sự tha thứ là kinh nghiệm mạnh mẽ và sâu xa nhất về lòng thương xót của Chúa. Thiên Chúa sửa phạt bằng ân sủng của Ngài như thánh Phao-lô đã xác tín: “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ân sủng chan chứa gấp bội” (Rom 5:20).

Theo kinh nghiệm của thánh nữ, Thiên Chúa làm phi tang những hành động bất chính và tội lỗi của ngài ngay khi vừa mới phạm. Chúa còn để cho mắt những người chứng kiến ra đui mù để họ không trông thấy những tội lỗi ấy, và Chúa xoá hẳn chúng khỏi ký ức của họ. Chúa còn tô son điểm phấn trên các lầm lỗi của thánh nữ và làm cho vài nhân đức của ngài chói sáng rực rỡ. Từ kinh nghiệm ấy, thánh nữ thốt lên với Chúa rằng:

“Ôi lạy Chúa, ước chi con có thể trình bày hết được những dịp tội mà Chúa đã giải thoát con trong những năm này. Con đã sa đi ngã lại trong những dịp ấy và Chúa đã làm cách nào để cứ liên tục cứu con khỏi những dịp nguy hiểm có thể làm mất hết thanh danh của con. Bởi hành động, con đã tỏ ra con thuộc loại người nào, thì Chúa lại che giấu những hành động bất hảo của con và phơi bày ra một vài nhân đức vụn vặt con có được, rồi tô son khuếch đại chúng trước mắt mọi người để họ luôn nghĩ tốt về con. Vì dầu biết bao lỗi lầm của con, đôi khi thật là lộ liễu, thế mà người ta lại không tin như vậy, vì người ta đã thấy nơi con những chi tiết khác có vẻ là nhân đức. Sự việc xảy ra như vậy, vì Đấng thấu suốt mọi sự thấy cần phải để như thế để về sau, khi nói đến những chuyện liên quan đến việc phục vụ Ngài, Ngài ta có thể tin con. Lượng bao dung cao vời của Ngài không kể chi đến những tội tầy đình của con, nhưng lại nhìn đến những ước muốn phục vụ của con và nỗi đau đớn con cảm thấy vì bất lực không thể thực hiện được như mình mong muốn (Tự Thuật 7, 18; x. Tự Thuật 4, 10; 6, 6; 38, 7, 16).

Thánh nữ cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa tha thứ không biết mệt mỏi và lòng thương xót của Ngài thì không bao giờ cạn. Chúa không chỉ tha một lần những vô số lần, không thể đếm được. Sự tha thứ của Ngài không có giới hạn. Lòng thương xót Chúa được ví như dầu thơm đem lại sức khỏe, là linh dược cho tội lỗi chúng ta, xoa dịu và chữa lành những vết thương của chúng ta (x. Đường Hoàn Thiện 16, 7); “không phải chỉ chữa lành bên ngoài mà còn trừ diệt tận gốc các vết thương nữa” (Tự Thuật 19, 5). Vì thế ngài khuyên “linh hồn hãy tin tưởng vào lượng từ bi của Thiên Chúa, lượng từ bi cao cả vượt trên mọi gian ác tội lỗi chúng ta có thể phạm. Với lòng khiêm tốn nhận biết mình, chúng ta muốn nối lại tình bạn thân mật với Ngài, thì Ngài chẳng còn nhớ tội vong ân, cũng chẳng còn nhớ rằng chúng ta đã lạm dụng các hồng ân Ngài đã ban cho chúng ta. Ngài rất hữu lý để phạt chúng ta vì những tội này, nhưng thực tế, Ngài đã tha thứ cho chúng ta cách dễ dàng, và như người ta nói, Ngài tha cách dễ dàng cho những người đã là phần tử trong gia đình Ngài, những người ăn cùng bàn với Ngài. Vậy họ hãy nhớ lời Ngài và hãy xét cách Ngài đã thực hiện cho tôi là kẻ đã mệt mỏi vì xúc phạm đến Ngài trước khi Ngài mệt mỏi tha thứ cho tôi. Ngài vui lòng ban phát mãi mãi và lòng Thương Xót của Ngài không bao giờ vơi cạn. Vậy chúng ta hãy ân cần lãnh nhận (lòng thương xót của Ngài). Nguyện Ngài được chúc tụng đến đời đời Amen, và chớ gì mọi tạo vật đều ngợi khen Ngài” (Tự Thuật 19, 15; x. Tự Thuật 19, 10; 14, 9).

Tuy nhiên nhiều lần bằng chính kinh nghiệm của mình, thánh nữ nhận ra rằng ma quỉ gieo vào trong tâm hồn chúng ta sự cám dỗ về đức khiêm nhường giả tạo. Nó nói với chúng ta rằng chúng ta không xứng đáng với lòng thương xót của Chúa vì tội lỗi của chúng ta và khiến chúng ta nghi ngờ và không tín thác vào lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa với mục đích khiến chúng ta bỏ cầu nguyện và xa rời Thiên Chúa (x. Đường Hoàn Thiện 39, 1-2). Khi gặp thử thách như vậy, thánh nữ khuyên chúng ta “hãy cố gắng hết sức đừng nghĩ đến sự cùng cực của mình và đặt nó nơi lòng thương xót Chúa, nơi tình yêu của Ngài đối với chúng ta và nghĩ dến những đau khổ Ngài đã chịu vì chúng ta” (Đường Hoàn Thiện 39, 3). Đặc biệt để vượt qua cám dỗ này, thánh nữ khuyên chúng ta nhớ lại những hồng ân Chúa đã ban cho chúng ta, những điều Chúa đã thực hiện cho chúng ta trước đây do lòng thương xót của Ngài.

Ngoài cảm nghiệm về sự tha thứ, thánh nữ còn cảm nghiệm về lòng thương xót được ví như cánh tay. Nhờ cánh tay đó của lòng thương xót, Thiên Chúa nâng thánh nữ lên và giúp ngài tiến bước trên hành trình mới sau khi ý thức được thân phân yếu hèn, tội lỗi của mình, sau khi đã được hoán cải nhờ lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa. Thiên Chúa sẽ không buông thánh nữ khỏi tay Ngài để rồi thánh nữ không phải hư mất (x. Tự Thuật 38, 7. Kinh nghiệm đó đã khiến ngài hết sức cảm động và thốt lên:

“Thật là một cảnh tượng cảm động biết bao khi thấy một linh hồn đã tới bậc cao siêu này mà lại phạm tội và lòng thương xót Chúa lại giơ tay đỡ lấy và lại nâng nó dậy! Nó ý thức rõ về muôn kỳ công, lòng thương xót của Chúa và về tình trạng cùng khốn của riêng nó chừng nào! Lúc này nó thực sự tiêu hao đi vì xấu hổ bởi nhận thấy những kỳ công kiệc tác của (lòng nhân từ) Chúa. Nó không còn dám ngước mắt lên, nếu có ngước mắt lên thì cũng chỉ để nhận ra những ơn lành Chúa đã ban cho thôi.  Nó tha thiết khẩn xin Đức Nữ Vương Thiên Đàng làm nguôi lòng Chúa cho nó. Nó khấn cầu cùng những vị thánh mà sau khi đã được Chúa kêu gọi, cũng còn sa ngã giống như nó, trợ giúp nó. Bây giờ nó cảm thấy rằng tất cả những gì Chúa đã ban cho nó đều thật rộng rãi mênh mông, vì nó biết mình không xứng, cũng chẳng xứng được trái đất nâng đỡ nữa. Nó đến lãnh nhận các bí tích và khi thấy Chúa đã đặt để vào các Bí tích biết bao là hồng ân, thì một đức tin sống động bùng lên trong nó. Nó chúc tụng Chúa đã để lại những phương dược như thế để xoa dịu và chữa lành các vết thương của chúng ta, không phải chỉ chữa lành bên ngoài mà còn trừ diệt tận gốc các vết thương nữa. Nhận thấy thế, nó sững sờ kinh ngạc – lạy Chúa của hồn con, ai có thể không sững sờ kinh ngạc khi thấy Chúa lấy lòng thương xót vô biên và hồng ân vĩ đại bao la mà báo trả cho sự bội phản điên khùng và đáng kinh tởm như thế? Con, một kinh nghiệm bội nghĩa bất trung, con không biết làm sao tim con không tan vỡ ra khi con viết những hàng này” (Tự Thuật 19, 5).

Do lòng thương xót của Ngài, Thiên Chúa còn ban ân sủng để giúp thánh nữ bền đỗ trong đời sống cầu nguyện (x. Tự Thuật 8, 2.4). Nếu không có sự giúp đỡ của lòng thương xót linh hồn không thể nào tiến bước trên đường nguyện gẫm (x. Tự Thuật 15, 2). Ngoài ra, nhờ lòng thương xót của Ngài, Chúa còn ban cho thánh nữ sức mạnh để chịu đựng những đau đớn của bệnh tật (x. Tự Thuật 5, 8; 6, 2).

Bên cạnh kinh nghiệm về sự tha thứ, cùng với những ân huệ khác của lòng thương xót như chúng ta đã thấy trên đây, thánh nữ còn nhận được những ân huệ thần bí cao vời, cảm nghiệm những điều kín nhiệm của mầu nhiệm Thiên Chúa. Đối với ngài đó là ân huệ cao vời nhất của lòng thương xót Chúa vượt xa mọi công trạng của ngài. Nhờ lòng thương xót, Thiên Chúa không chỉ tha thứ tội lỗi cho chúng ta, thánh nữ còn đi đến chỗ xa hơn nữa khi xác tín rằng Thiên Chúa vì lòng thương xót và tình yêu bao la của Ngài, Ngài có thể ban những ân huệ phi thường, những ơn chiêm niệm siêu nhiên cho cả những tội nhân, những người còn ở trong tình trạng bất toàn để đưa họ về với Ngài: “Vậy tôi muốn nói rằng: đôi khi Thiên Chúa ban đặc ân ấy cho những người ở trong trạng thái không tốt để qua phương tiện đó họ thoát khỏi tay ma quỉ” (Đường Hoàn Thiện 16, 6).

Ngoài ra thánh nữ còn cảm nghiệm về lòng thương xót nơi cuộc đời của người khác khi Chúa giải thoát họ khỏi những sự dữ và ban cho những điều họ cầu xin nhờ lời cầu nguyện của ngài, đặc biệt những lời cầu xin về phần rỗi cho các linh hồn, cho việc thăng tiến trên đường hoàn thiện. Tất cả đều do lòng thương xót và nhân hậu của Chúa:

“Đáp lời con cầu xin, Chúa thường giải thoát các linh hồn khỏi tội trọng và dẫn nhiều linh hồn khác tiến lên bậc hoàn thiện. Còn về việc cứu các linh hồn khỏi luyện ngục và thể hiện những đặc ân khác như vậy cho con thì rất nhiều, nếu kể ra hết thì con phát mệt và độc giả cũng mỏi mệt nữa. Những ơn ban cho sức khoẻ phần hồn thì nhiều hơn là sức khoẻ phần xác. Nhiều người đã nhận thấy và làm chứng như thế. Vào buổi đầu, điều đó làm con ngượng ngùng, vì con không chắc Chúa đã ban những ơn ấy vì lời con cầu xin – vì lý do chính là Ngài rất nhân hậu. Nhưng bây giờ Chúa ban quá nhiều những ơn này và nhiều người biết nên con thấy tin như thế cũng không khó gì. Con tán tụng Chúa Uy Linh và con xấu hổ, vì con thấy, con càng mắc nợ Ngài nhiều hơn thôi. Con tin Ngài gia tăng lòng khao khát phục vụ Ngài cho con và đốt lòng con bừng lửa yêu mến Ngài. Điều làm con ngạc nhiên hơn cả là những ơn nào mà Chúa thấy không thích hợp cho con, thì dù cố gắng, con cũng không thể nài nẵng Ngài ban cho con. Khi con cố gắng cầu xin, thì lời cầu xin của con cũng không mấy tha thiết, nó hờ hững và con không thể tập trung chú ý vào được. Càng cố gắng bao nhiêu, con càng không thể cầu xin hơn bấy nhiêu. Còn khi xin ơn nào Chúa muốn ban, con thấy con có thể liên lỉ cầu xin và tha thiết nài nỉ, và dù không đặc biệt nhớ đến, thì dường như tự nhiên nó cũng hiển hiện trong trí con” (Tự Thuật 39, 5).

HIỆU QUẢ CỦA KINH NGHIỆM VỀ LÒNG THƯƠNG CHÚA XÓT

Trong số những hiểu quả của Lòng Chúa Thương Xót trên cuộc đời của thánh nữ Tê-rê-xa Avila, hiệu quả đầu tiên là được biến đổi nên giống Thiên Chúa của lòng thương xót. Linh hồn trở nên lòng thương xót cho tha nhân. Linh hồn trở thành tôi tớ của Lòng Chúa Thương Xót, sẵn sàng để cho Thiên Chúa sử dụng theo cách Ngài muốn để phục vụ tha nhân:

“Hãy suy nghĩ điểm này cho thật kỹ lưỡng, vì đó là điều quan trọng tôi khó có thể nhấn mạnh hơn được. Hãy nhìn lên Đấng chịu đóng đinh rồi các chị sẽ thấy không còn gì khác là quan trọng cả. Nếu Chúa đã mạc khải tình yêu của Ngài cho chúng ta bằng cách thực hành và chịu đựng những cực hình kinh khủng như thế, thì làm sao các chị có thể mong làm hài lòng Ngài chỉ bằng lời nói suông? Các chị có biết khi nào Ngài ta thực sự trở nên những Ngài sống đời sống thiêng liêng không? Người ta sống đời sống thiêng liêng thực sự khi người ta trở thành nô lệ của Thiên Chúa và được Chúa đóng dấu hiệu tức là dấu thánh giá của Ngài vào, dấu ấy là bảo chứng rằng người ta đã trao phó tự do của mình cho Ngài. Bây giờ Ngài có thể bán họ, như người ta bán nô lệ cho cả thế giới như chính Ngài đã bị bán. Nếu Ngài hành động như thế thì không phải là Ngài xử tệ với họ đâu, nhưng là ban cho họ một ơn không nhỏ. Nếu họ không quyết định sẵn sàng như thế thì đừng trông tiến xa hơn được… Bởi vậy các chị thân yêu, nếu các chị muốn đắp nền vững chắc thì mỗi người đều phải cố gắng nên những người nhỏ bé nhất làm nô lệ cho Thiên Chúa, và phải tìm phương liệu thế làm hài lòng và phục vụ mọi chị em. Nếu các chị thực hành như thế thì sẽ ích lợi cho các chị hơn là cho chị em, nền móng tòa nhà sẽ vững chắc và lâu đài của các chị sẽ không sụp đổ” (Lâu Đài 7, 4, 8).

Theo kinh nghiệm của thánh nữ Tê-rê-xa Avila cũng như của những ai đã cảm nghiệm Lòng Chúa Thương Xót, họ được trở thành nô lệ của tình yêu để phục vụ, để tha thứ, để trở nên kiên nhẫn trước những yếu đuối và thiếu xót của người khác như chính Lòng Chúa Thương Xót đã thực hiện trên cuộc đời của chính họ. Vì thế ngài khuyên các nữ tu của mình như sau: “Vậy chị em thông cảm với nhau trong lúc cần thiết thật là điều rất tốt… Hãy tìm hiểu cho biết phải cảm thông và xót thương chị em trong những sự gì; luôn luôn hãy tỏ lòng xót thương chị em, khi thấy chị em phạm lỗi, nếu là lỗi tỏ tường ai cũng biết. Đây là cơ hội để chứng tỏ và thực hiện tình yêu khi biết nhịn chịu lỗi ấy mà không ngạc nhiên; các người khác cũng sẽ xử sự đối với chị em như vậy khi chính chị em phạm lỗi; các lỗi ấy chắc nhiều lắm mặc dầu chị em không thấy được. Chị em hãy cầu nguyện cho người phạm lỗi và cố gắng thực hành nhân đức trái nghịch với lỗi mà Ngài chị em khác phạm” (Đường Hoàn Thiện 7, 7).

Những ai cảm nghiệm được lòng thương xót sẽ được ban cho khả năng thấu cảm những nỗi đau của người khác, có thể cảm thông và chia sẻ với những gánh nặng và khó nhọc của người khác. Nhưng họ thực hiện điều đó trong sự thật và bác ái, sẵn sàng sửa lỗi người mình yêu để họ được thăng tiến. Họ không chấp nhận sự giả dối trong tương quan với nhau. Thánh nữ Tê-rê-xa thốt lên như sau:

“Tôi nói: tình yêu ấy rập theo khuôn mẫu của tình yêu Chúa Giêsu, Đấng yêu thương đầy lòng nhân hậu đối với chúng ta. Những ai có tình yêu ấy được lợi nhiều lắm, vì họ ôm ấp chấp nhận mọi đau khổ, và rồi các người khác, không vất vả gì, cũng nhờ đó mà được lợi. Cả những bạn hữu của họ cũng được lợi nhiều nữa. Chắc chắn rằng: hoặc họ sẽ chấm dứt tình nghĩa riêng tư – như tôi nói trước – hoặc họ xin Chúa ban ơn cho tất cả cùng nhau đi theo một con đường, cùng hướng về một quê hương, giống như thánh nữ Monica và thánh Augustin xưa. Những linh hồn có tình yêu như vậy không chấp nhận sự giả dối hai lòng cùng bạn hữu: nếu thấy bạn hữu lạc đường, họ cảnh báo ngay, cả khi phạm tội cũng thế. Không thể cư xử cách khác được. Nếu bạn hữu không sửa mình, họ chẳng a dua nịnh bợ, cũng chẳng dấu diếm chi hết. Hoặc là bạn hữu phải sửa mình hoặc chấm dứt tình bạn, chứ không thể chịu được, mà thực sự không chịu được như vậy, bên này với bên kia sẽ như thù địch luôn gây gỗ. Vì thoát ly khỏi thế gian, họ không quan tâm đến việc người khác ở thế gian có thờ Chúa hay không thờ Chúa, vì họ phải chú tâm đến việc họ phải chu toàn ý Chúa. Nhưng đối với bạn hữu, họ không thể xử như vậy, và cũng không che giấu chi hết, họ để ý đến cả những sự rất nhỏ mọn. Thực thì họ phải vác khổ giá nặng lắm” (Đường Hoàn Thiện 7, 4).

Những người có lòng thương xót đích thực không chấp nhận sự giả dối hai lòng. Họ sẵn sàng sửa lỗi người mình yêu bởi vì họ “thường xuyên ước muốn cho người yêu thăng tiến, mà nếu không được thì không hài lòng. Và khi nghĩ người mình yêu thăng tiến, nhưng thực sự lại lùi bước thì xem ra chẳng có thể vui được ở đời này nữa: mất ăn mất ngủ vì lo âu, luôn luôn sợ rằng người yêu như thế phải hư vong và mình phải xa cách đời đời. Sự chết ở đời này chẳng còn kể là chi nữa, chẳng còn thiết gì của đời chóng tan mau biến, một cơn gió thoảng cũng đủ làm tiêu tan mà không còn di tích gì. Đó là tình yêu – như tôi đã nói – hoàn toàn vô vị lợi; tất cả hy vọng, tất cả ước muốn là thấy linh hồn mình yêu được giàu của thiêng liêng trên trời. Đây mới là tình yêu chân chính, chứ không phải những cách yêu thương lộn xộn ở đời này – mặc dầu tôi không nói là xấu – Xin Chúa cứu chúng ta thoát khỏi những cách yêu thương lộn xộn như vậy” (Đường Hoàn Thiện 7, 1).

Để được như vậy, nhờ cảm nghiệm được Lòng Chúa Thương Xót thể hiện nơi sự quảng đại và tốt lành của Ngài, sự tự hiến của Ngài dành cho chúng ta, chúng ta sẽ sẵn sàng quên mình đi, quên đi những lợi ích riêng của mình để quan tâm đến lợi ích của người khác. Và chỉ cần biết rằng người khác được giàu có về những điều thiện hảo, đặc biệt những thiện hảo thiêng liêng trên trời, thì họ sẵn sàng hy sinh hàng ngàn sự sống để người khác có được chút thiện hảo mà họ khao khát:

Tình yêu nào chỉ tồn tại ở trần gian này thì linh hồn những người được Chúa thông ban sự khôn ngoan chân thật không chuộng nó hơn nó đáng, và coi rẻ; coi khinh. Còn đối với những kẻ ưa thích vui hưởng những sự đời này thì tình yêu ấy có giá chút đỉnh, nếu họ giàu có hoặc chung phần với nhau để cho qua giờ và vui chơi đàng điếm. Nhưng ai đã từ thoái gớm ghét tất cả thì coi thường hoặc chẳng màng chi tới. Vậy khi có tình yêu chân thật thì tình yêu sẽ thắm thiết cố gắng làm cho linh hồn yêu mến Thiên Chúa và được Thiên Chúa quí yêu, vì như tôi đã nói, họ biết rõ tình yêu không thể bền vững nếu muốn yêu (cách khác). Tình yêu đó phải trả giá rất đắt nên họ chẳng quản nề chi để giúp ích cho linh hồn mình yêu và sẵn sàng chết ngàn lần miễn sao linh hồn ấy đạt được sự thiện hảo thiêng liêng, dầu nhỏ thôi cũng được. Ôi tình yêu quí giá biết bao! Tình yêu ấy phải noi gương Vua Tình Yêu là Chúa Giêsu, nguồn mạch mọi sự thiện hảo” (Đường Hoàn Thiện 6, 9; x. Lâu Đài 5, 3, 12-13).

Theo cảm nghiệm của thánh nữ Tê-rê-xa Avila, hiệu quả lớn lao nhất của kinh nghiệm về Lòng Chúa Thương Xót là khả năng tha thứ và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi chúng ta bởi chính chúng ta cũng đã được xót thương và tha thứ. Theo ngài, có thể lúc đầu khi Chúa mới ban cho ơn cảm nghiệm về lòng thương xót của Ngài, linh hồn có thể chưa cảm thấy sức mạnh cương quyết ngay để tha thứ, để cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình, cho kẻ bách hại mình. Nhưng nếu Chúa tiếp tục ban ơn, không lâu, linh hồn sẽ được sức mạnh và mặc dầu không có sức trong các nhân đức khác, thì trong việc tha thứ, chắc chắn là có. Bởi vì thánh nữ xác tín như sau:

“Tôi, tôi không thể tin được rằng: một linh hồn đã được kết hợp với chính lòng thương xót của Chúa, đã hiểu biết mình là ai và đã được Chúa tha thứ nhiều, lại không sẵn sàng tha thứ và bình thản xử tốt với những kẻ xỉ nhục mình; bởi lẽ linh hồn ấy có trước mắt những hồng ân và những ơn lành Chúa đã ban cho mình và trong đó nhìn thấy dấu chỉ của một tình yêu bao la rồi vui sướng có cơ hội tỏ cho Thiên Chúa tình yêu của mình đối với Ngài. Tôi biết – tôi nhắc lại – nhiều người đã được Chúa ban ơn dẫn tới những bậc cầu nguyện cao siêu hoặc chiêm niệm siêu nhiên mà tôi đã nói tới, mặc dầu tôi thấy họ còn nhiều lỗi lầm và khuyết điểm khác, nhưng không thấy và không tin rằng họ có lỗi lầm hay khuyết điểm nào về điều này, nếu những hồng ân và ân huệ kia thật là do Chúa ban, như tôi đã nói. Ai lãnh nhiều ơn huệ hơn hãy coi chừng xem những hiệu quả ấy có ngày càng gia tăng không; nếu thấy trong mình không có hiệu quả nào như thế, thì phải sợ và chớ tin rằng những ơn kia là do Chúa ban, vì như tôi đã nói, ơn Chúa xuống trong linh hồn nào thì làm cho linh hồn ấy phong phú. Đó là điều chắc chắn, mặc dầu ân huệ và hoan lạc mau qua, nhưng linh hồn dần dần hiểu biết lợi ích mình đã được. Chúa Giêsu nhân lành biết rõ như vậy nên cương quyết thân thưa cùng Chúa Cha chí thánh: chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Đường Hoàn Thiện 36, 12-13).

THAY LỜI KẾT

Trong khuôn khổ của bài chia sẻ đơn sơ này, chúng ta không thể tìm hiểu một cách cặn kẽ, sâu xa và đầy đủ kinh nghiệm về Lòng Chúa Thương Xót của thánh nữ Têrêxa Avila. Dù vậy những chia sẻ trong bài này cũng đã giúp cho chúng ta hiểu một cách rõ ràng và sâu xa hơn lời giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô mà chúng ta đã trích dẫn ở đầu bài chia sẻ này. Quả thực, ơn cứu rỗi của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót giúp cho chúng ta hiểu một cách đúng đắn về mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi. Lòng Thương Xót chính là luật cơ bản ngự trị trong con tim của mỗi người chúng ta trong tương quan của mình với những anh chị em chung quanh. Lòng Thương Xót là cầu nối liên kết giữa Thiên Chúa và con người, trong khi mở lòng chúng ta ra cho một niềm hy vọng được yêu thương mãi mãi bất chấp tội lỗi ngập tràn của chúng ta.

Nhờ cảm nghiệm và được biến đổi bởi Lòng Chúa Thương Xót, chúng ta luôn sẵn sàng để mở lòng mình ra với tất cả mọi người, đặc những người đang sống bên rìa ngoài cùng của xã hội trong hoàn cảnh của đại dịch Covid-19 hôm nay để chữa lành những vết thương của họ, “xoa dịu chúng với dầu an ủi, băng bó chúng với lòng thương xót và chữa lành chúng với tình liên đới và sự chăm sóc chu đáo”.

Nhờ cảm nghiệm được Lòng Chúa Thương Xót, chúng ta sẽ không “rơi vào sự thờ ơ đáng ô nhục hoặc một thứ quán tính đơn điệu ngăn cản chúng ta khám phá những gì là mới mẻ”. Chúng ta sẽ “mở to mắt và nhìn rõ sự đau khổ của thế giới, và những vết thương của những anh chị em chúng ta là những người đang bị từ chối phẩm giá của họ, và để cho chúng ta nhận ra rằng chúng ta bắt buộc phải chú ý đến tiếng kêu muốn được giúp đỡ của họ!

Cầu xin cho chúng ta có thể tiếp cận với họ và hỗ trợ họ để họ có thể cảm thấy sự ấm áp với sự hiện diện của chúng ta, tình bạn của chúng ta, và tình huynh đệ của chúng ta! Cầu xin cho tiếng kêu của họ trở thành tiếng kêu của chính chúng ta, và cùng nhau chúng ta có thể phá vỡ những rào cản của sự thờ ơ là điều quá thường khi thống trị mọi thứ và che đậy thói ích kỷ và đạo đức giả của chúng ta!” (Tông chiếu Misericordiae VultusKhuôn mặt của Lòng thương xót, 15).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *