Suy Niệm Lời Chúa – Chúa Nhật XXV Mùa Thường Niên A

#Bánh cho đời: Isaia 55, 6-9; Philêmon 1, 20c-24.27a; Mát-thêu 20, 1-16a

“Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta”

Thiên Chúa đã dùng miệng tiên tri Isaiah mà phán như thế cùng với dân Israel và đó cũng chính là trung tâm điểm của bài tin mừng của Chúa Nhật 25 mùa Thường Niên hôm nay. Khi đọc bài dụ ngôn Ông Chủ Vườn Nho mà Thầy Giêsu kể trong bối cảnh xã hội của chúng ta ngày nay, chúng ta sẽ thấy khó có thể chấp nhận, hay chí ít là cảm thấy khó hiểu về cách hành xử và số tiền lương ông chủ vườn nho trả cho những người ông thuê theo các giờ khác nhau. Để rồi chúng ta cũng sẽ đưa ra kết luận như bao người khác, rằng ông chủ này rõ ràng không công bằng. Cho dù ông chủ đã trả lương một cách rất rộng rãi đối với nhóm người cuối cùng mà ông thuê để làm vào giờ cuối trong ngày. Nhưng tại sao ông không thể hiện sự rộng rãi, thoải mái của ông với nhóm thợ mà ông thuê để làm từ sáng sớm? Chúng ta cần phải hiểu vấn đề này như thế nào?

Thưa, đơn giản là đối với Thiên Chúa và trước mặt Người, loài người chúng ta không thể tính toán theo cách thế của loài người đứng như cách thế mà lời Chúa nói với chúng ta: “tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” Vào thời của Thầy Giêsu, Do Thái giáo đã là ‘quốc giáo’ và cách hiểu phổ biến về ‘ơn cứu độ’, là thứ con người có thể có được một cách xứng đáng qua việc biết và sống những luật lệ dài vô tận, theo một cách tuyệt đối nhất có thể. Chính vì thế, người ta có thể dễ dàng đưa ra sự phân biệt, những ai thuộc về nhóm ‘người công chính’ là những người đang bước đi trên con đường dẫn đến ‘ơn cứu độ’, hay những ai thuộc về ‘phường tội lỗi’ là những con người chắc chắn sẽ bị luận tội, bởi Thiên Chúa rất công bằng, vì họ đã không giữ những luật lệ của Người.

Chính vì cách hiểu máy móc, sai lầm về ‘hình ảnh Thiên Chúa’ này của những người mang trên mình trách nhiệm giảng dạy trong dân chúng, mà Thầy Giêsu đã kịch liệt phản đối bằng cách rao giảng về một Thiên Chúa công bằng, nhưng đầy lòng yêu mến con người. Vì chính Thiên Chúa là tình yêu và tình yêu của Người thì không có sự tính toán ở đó, nhất là những công đức hay việc tốt mà ta đã làm được. Mà trong tình yêu ấy chỉ có những đôi bàn tay trắng, trắng tay vì đã cho đi tất cả mà không tính toán hay giữ lại bất cứ gì cho chính mình.

Chính vì thế chúng ta những Kitô hữu chẳng thể vỗ ngực mà nói rằng ta xứng đáng để được cứu rỗi, hay mình xứng đáng có được những ơn này ơn kia từ Thiên Chúa bởi những việc mình làm. Nhưng ta chỉ có thể đứng trước Thiên Chúa với một tâm thế khiêm nhường và khát khao ơn cứu độ của Người mà thôi. Vì thế, sự khó hiểu mà ta mang trong tâm trí khi đọc bài tin mừng hôm nay, không nằm ở chỗ những người trong nhóm thợ được ông chủ thuê làm vào giờ cuối đã chẳng xứng đáng có được những gì mà ông chủ vườn ban cho. Nhưng là những ý tưởng sai lệch về việc tự cho mình là xứng đáng để lãnh nhận phần thưởng lớn từ sự quảng đại của ông chủ vườn nho, vì mình đã làm được nhiều giờ hơn những người khác.

Tư tưởng này chắc chắn đã không dừng lại nơi những nhóm thợ đến trước trong dụ ngôn, nhưng nó vẫn còn hiện diện đâu đó trong cộng đoàn tín hữu chúng ta ngày nay. Chúng ta đôi khi vẫn bắt gặp những người ‘Kitô hữu tốt lành’ trong việc hiểu và sống Lời Chúa, nhưng lại chẳng dễ dàng cho họ chấp nhận những người ‘hối lỗi và trở về vào giờ sau hết’ trên giường bệnh, để được đưa vào hưởng nước trời như anh trộm lành năm xưa. Để rồi, họ đưa ra câu hỏi “sự công bằng của Thiên Chúa ở đâu?” Chính thái độ này đã tạo nên trong chúng ta một hình ảnh méo mó về Thiên Chúa của tình yêu. Với họ, Người phải như một quan toà sẵn sàng bắt phạt những ai ‘có lỗi’. Như thế, mối quan hệ giữa chúng ta và Thiên Chúa chỉ dừng lại ở ‘thưởng – phạt’ chứ không xuất phát từ chính sự yêu thương ‘cha-con’ mà Thầy đã loan báo và mong muốn ta có trong mình. Nhưng nếu mối quan hệ giữa ta với Thiên Chúa là ‘cha – con’ thì chắc hẳn ta chẳng cần tự cho mình là xứng đáng để được hưởng những phần thưởng từ Ngài, thì Thiên Chúa cũng đã sẵn sàng ban cho ta những gì ta cần, nhất là sự bình an và hạnh phúc trong hành trình trở về với Ngài. Để rồi cho dù chúng ta có phải đối mặt với những khó khăn lớn đến đâu đi chăng nữa, ta vẫn có được sự bình an khi ta chạy đến với Người, bởi vì ta có một Thiên Chúa của Tình Yêu, một người Cha luôn thấu hiểu ta.

Vậy còn lòng trung thành sống Lời Chúa của ta hằng ngày thì sao? Thưa, lòng trung thành ấy sẽ mang đến cho ta những ơn thiêng liêng cần thiết để đạt được sự hoán cải hoàn hảo trong giây phút cuối của đời mình. Bởi chính sự trung thành và tình yêu của ta trên hành trình theo Chúa, sẽ làm cho trái tim và tâm hồn mình trở nên rộng lớn hơn để đón nhận chính Thiên Chúa vào ngự trong ta trong từng giây phút của cuộc đời. Ở đây không còn là vấn đề của sự thưởng phạt nữa, nhưng là khả năng đón nhận chính Thiên Chúa trong mỗi người chúng ta. Ta cũng nhận thấy mối quan hệ thân thiết, gần gũi này với Thiên Chúa nơi thánh Phao-lô. Trong khi bị đe doạ tứ bề bởi những sự bách hại hãi hùng, ngài vẫn giữ trong mình được niềm vui trong Chúa Kitô như người đã nói: “dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô sẽ được vẻ vang trong thân xác tôi. Vì đối với tôi, sống là Đức Kitô, còn chết là một mối lợi.”

Bài dụ ngôn mà chúng ta lắng nghe và suy niệm hôm nay là một lời mời gọi cho chính mỗi người chúng ta, hãy kiểm tra lại hình ảnh nào về Thiên Chúa và mối quan hệ nào mà ta đang có với Ngài. Chính những yếu tố này quyết định cách hiểu và sống Ơn Chúa nhất là Lòng Thương Xót của Ngài, như Đức Thánh Cha Phanxicô nói trong Tông Huấn “Niềm Vui của Tin Mừng” như sau: “Là Hội Thánh có nghĩa là dân Thiên Chúa, phù hợp với kế hoạch yêu thương cao cả của Chúa Cha. Ðiều ấy có nghĩa là làm men của Thiên Chúa giữa nhân loại. Ðiều ấy có nghĩa là loan báo và mang ơn cứu độ của Thiên Chúa vào thế giới của chúng ta, là thế giới thường bị lạc đường, cần những đáp trả khuyến khích, đem lại cho nó can đảm, cho nó hy vọng và sinh lực mới trong cuộc hành trình. Hội Thánh phải là nơi của lòng thương xót được ban cách nhưng không, ở đó mọi người có thể cảm thấy được đón tiếp, yêu thương, tha thứ và khuyến khích để sống một đời sống tốt đẹp của Tin Mừng.” (114)

Dương Đức Nghĩa, OCD 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *