TĨNH TÂM MÙA VỌNG ONLINE 2020 – Tuần Thứ Ba Mùa Vọng

TĨNH TÂM MÙA VỌNG VỚI CHÂN PHƯỚC MARIE NHẬP THỂ (“LA BELLE ACARIE” – 1566-1618)

– Người phụ nữ hành động và thần nghiệm, tin vào điều không thể –

+++

 

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG: “Tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,27)

+++

  1. HÀNH ĐỘNG VÀ CHIÊM NIỆM

a) Dâng mình

Năm 1589, Vua Henri III nhận Henri de Navarre làm người kế vị, nhưng dư luận công chúng, đa số là người công giáo, không chấp nhận một người thệ phản cai trị. Vua Henri IV này phải dùng vũ lực để áp đặt. Bà Barbe suốt ngày ở trong bệnh viện Saint-Gervais để chăm sóc những người bị thương cứ đổ dồn về Paris: “Các vết thương của họ bị nhiễm trùng quá chừng, bà cứ vui thích lau rửa và chăm sóc họ”. Bà nấu cháo nấu súp tại nhà và bà giúp cho họ ăn. Bà canh trực bên cạnh những người hấp hối, và đưa cho họ nhìn Thánh Giá và nói những lời nâng đỡ họ, các binh lính muốn có sự hiện diện của bà. Bà chuẩn bị cho họ xưng tội để được chết an lành hay có lòng ước muốn cải thiện đời sống. Từ hồi nhỏ bà đã có lòng rất nhạy cảm trước những đau khổ của người khác.

Vua Henri IV vây hãm thành Paris vào tháng 5 năm 1590. Dân chúng phải chịu một trận đói kinh hoàng. Bà Acarie quảng đại mang hết tất cả những dự trữ trong gia đình ra phân phát cho những người đói rách, bất chấp bà mẹ chồng chống đối. Trong khi dân chúng đang rơi vào cùng cực chết chóc, lại nổi lên một hiện tượng tôn giáo sôi động: các liên minh quá khích, như tu viện trưởng Guincestre, cha sở của Saint-Gervais, thành lập một dạng thần quyền, tổ chức các cuộc rước kiệu trong một bầu khí kích động, khích lệ tinh thần người Paris. Vua Henri IV sửng sốt trước phản ứng chống lại giận dữ như vậy, ông rút quân không vây hãm nữa vào giữa tháng 8. Bà Acarie tiếp tục chăm lo những người nghèo và các bệnh nhân; bà mở một căn nhà đón tiếp những người phụ nữ muốn bỏ nghề gái điếm; bà nhận nuôi sáu người con mà một người mẹ bỏ chúng lại ở nhà bà và bà chăm lo giáo dục chúng cho đến khi chúng có nghề nghiệp. Bà lo đến sự công bằng xã hội trong việc đối xử với nhân viên hay những người làm công. Có những người kinh ngạc là làm sao bà vừa chăm lo gia đình bà một cách chu đáo, bà vừa dấn thân làm bao công việc bên ngoài, thì bà trả lời cho họ: “Khi người ta dành thời giờ cho Thiên Chúa, người ta sẽ có thời giờ làm mọi việc còn lại. Tinh thần của Thiên Chúa là không để mình nhàn rỗi một giây phút nào!”.

b) Đời sống thần nghiệm

Năm 1590, trong khi dâng thánh lễ ban sáng tại nhà thờ Saint-Gervais, bà ngã xuống và xuất thần trong nhiều giờ. Những hiện tượng này lại xảy ra thường xuyên hơn, bà sợ là điều này do ma quỉ. Các bác sĩ ghi nhận là có hiện tượng máu rỉ làm cho bà kiệt sức. Bà gặp Benoît de Canfeld vào mùa hè 1592. Ông là người Anh, trở lại đạo công giáo và làm thầy Dòng Xitô. Ông am tường về hiện tượng thần bí: “Ông giúp bà hết nghi ngờ và làm cho bà thấy rằng mọi sự đã xảy ra nơi bà là từ Chúa và do các hiệu quả của ân sủng mà đến”. Cho đến khi chết, bà cứ xuất thần và trong những lúc như vậy, bà nghĩ đến “được chết an lành”. Từ năm 1573, bà trải nghiệm hằng tuần những đau khổ của Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô mà không thấy có một vết thương nào nơi bà. Cha Coton viết về chuyện này: “Bà có những thương tích nơi thân thể bà trong vài giờ và đặc biệt là những ngày thứ sáu và thứ bảy, và những ngày trong mùa chay, bà cảm nghiệm đau đớn vô cùng ở hai chân, bàn tay, cạnh sườn và trong đầu, như thể chúng đâm xuyên qua bà và bà như đang bị treo lên”. Bà Acarie từ nay cho đến chết liên lỉ kết hiệp với Chúa Kitô, bà mang một cuộc thương khó thật sự trong khi bà cầu nguyện để cứu chuộc các tội nhân. Đàng khác, bà sống hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng. Người hướng dẫn bà trong mọi việc bà làm. Lòng tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa mang lại cho bà ơn can đảm đối phó với những khó khăn xem ra không thể vượt qua được. Và thật sự đi vào trong một giai đoạn thử thách lớn lao nhất trong đời: “Một linh hồn không bao giờ làm được điều gì tốt nếu linh hồn không nhắm mắt nhảy vào trong vòng tay của Thiên Chúa quan phòng, vì bấy giờ Thiên Chúa buộc phải trợ giúp linh hồn như lời Người đã hứa”.

c) Tin vào Thiên Chúa quan phòng

Từ năm 588, Liên Minh đã lật đổ vua Henri III và chiếm lại quyền tại Paris. Pierre Acarie ở trong hội đồng Seize, điều khiển thành phố. Trong khi bà Barbe hết mình chăm lo những người bị thương và đói rách, chồng bà lo tài chánh cho chính phủ nổi dậy đến nỗi phải mang hết tài sản ra trợ giúp. Khi vua Henri IV lên ngôi năm 1594, chồng bà bị kết án đi lưu đày. Ông giao lại quyền hành cho vợ mình quản lý tài sản, đúng hơn là những món nợ! Vì chồng bà đã vay mượn biết bao tiền bạc, nên những chủ nợ đến lấy hết những gì vợ chồng họ có. Cha mẹ bà Barbe nói bà ly dị chồng bà để bà còn giữ lại được của hồi môn của bà, nhưng bà từ chối phản bội chồng; thế là cha mẹ bỏ rơi bà cho đến độ bà lâm vào tình cảnh nghèo khổ tận cùng. Các nhân viên chấp hành xông vào nhà bà lấy hết tất cả đồ trong nhà, ngay cả chén bát bà dùng trong bữa ăn hằng ngày. Bà phải quỳ xuống van xin một người bà quen biết cho bà mượn chút ít gì để nuôi sáu đứa nhỏ, đứa lớn nhất lúc ấy mới mười tuổi. Họ đáp lại là gởi chúng vào một tiệm sửa giày cũ mà kiếm sống. Bấy giờ bà cảm thấy vui mừng vì phải chỉ phó thác cho Chúa Quan Phòng. Bà Bérulle đón bà với Andrée Levoix về trong một căn phòng thanh bần. Bà đưa hai đứa con trai vào một trường học, hai đứa con gái lớn vào các nhà dòng, và hai đứa nhỏ nhất ở với cha mẹ. Rồi, bà đối đầu với những người dùng luật pháp mà bênh vực việc họ làm cho bà phải chịu những khốn khổ trong xã hội.

Rồi thêm vấn đề sức khỏe. Tháng sáu năm 1596, sau khi bà thăm chồng bà bị lưu đày, bà đi xe ngựa về nhà, con ngựa làm bà té xuống đất. Chân bà bị kẹt ở bàn đạp yên ngựa, và con ngựa kéo lê bà đi. Những người dân quê đặt bà lên xe bò mà đưa bà về. Bà đau đớn kinh khủng. Bà chịu một cuộc giải phẫu ở đùi chân trong hai giờ, vì có ba vết nứt ở xương đùi, vậy mà bà không một chút than van. Trong những ngày tháng tiếp theo sau đó, bà ngã hai lần, làm gãy lại những vết nứt ấy đến nỗi bà không thể đi được nữa mà không phải dùng hai cái nạng. Bị thương tật không ngăn cản bà tiếp tục tìm công lý. Có những người kinh ngạc về lòng can đảm của bà, bà tuyên bố với họ: “Hãy nhìn lên Thiên Chúa, và cho Người thấy mình yếu đuối và xin Người ban sức mạnh”. Châm ngôn của bà là “Phó thác cho Thiên Chúa quan phòng như thế không có một phương thế nào nữa của con người, và làm việc như thể không có Thiên Chúa quan phòng trong đó”.

Sau bốn năm tranh đấu, Bà Acarie trả hết được các chủ nợ và phục hồi một phần gia sản. Việc bà lật ngược lại tình thế làm cho bà nổi tiếng đến tận Triều Đình. Vua Henri IV muốn gặp bà. Hòa ước Nantes được ký kết và hòa bình tôn giáo được tái lập. Bà nhận được lệnh vua cho phép chồng bà trở lại Paris và ở trong nhà của họ ở đường Những Người Do Thái, và bà nhận lại được tài sản.

  1. SỐNG CHO THIÊN CHÚA (Ga 1,6-8,19-28)

“Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng…

Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: “Ông là ai? ” Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: “Tôi không phải là Đấng Ki-tô.” Họ lại hỏi ông: “Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Ê-li-a không? ” Ông nói: “Không phải.” – “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng? ” Ông đáp: “Không.” Họ liền nói với ông: “Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông? ” Ông nói: Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.

Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu. Họ hỏi ông: “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ?” Ông Gio-an trả lời: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” Các việc đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa”.

a) Nghe tiếng người hô

Trong những điều này, Bà Acarie nhận mình không có công trạng gì cả. Giống như thánh Gioan Tẩy Giả, bà hoàn toàn phó thác cho công việc Thiên Chúa: “Ôi, chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa chừng nào, Người là Đấng rất tốt lành, Người yêu thương chúng ta vô cùng! Nếu chúng ta gặp khó khăn trong điều gì đó, đó là vì chúng ta chưa yêu mến Thiên Chúa đủ… Khi nào chúng ta mới dâng cho Người tất cả và chúng ta không dành giữ lại gì cho mình? Không có gì chúng ta phải giữ cho mình, mọi sự là của Thiên Chúa. Thành thử chúng ta hãy phụng sự Thiên Chúa như Người là Thiên Chúa… Ôi chúng ta thật hạnh phúc vì được làm điều gì đó để phụng sự Thiên Chúa!”. Thánh Gioan Tẩy Giả xóa mình trước Đấng ông loan báo là sẽ đến.

Tuy nhiên, những việc ông làm như một tiên tri kéo người ta đến với ông và ông khuyên họ hoán cải, vì ông tin là Nước Thiên Chúa sắp đến. Những người lãnh đạo tôn giáo muốn minh xác người này là ai, vì ông đang làm những việc tôn giáo mà không được họ sai phái. Gioan nói rõ ràng với họ là ông không là gì cả, nhưng họ vẫn lưỡng lự về căn tính thật của ông. Ông không phải là Đấng Kitô, và ông cũng không đáng cởi quai dép cho Đấng Kitô.

Ông không phải là Êlia là người phải đến trước khi Đấng Kitô đến. Ông cũng không nhận mình là tiên tri mà Isaia đã loan báo! Ông tự định nghĩa cách đơn giản là TIẾNG NÓI giúp phát âm ra LỜI đã được loan báo từ xưa, nay vang lên trong hoang địa. Tiếng nói tự mình không hiện hữu, nhưng tiếng nói dùng để chuyển thông lời. Căn tính của Gioan Tẩy Giả hoàn toàn quy hướng về Lời mà Thiên Chúa đã ngỏ với dân Người từ muôn thế hệ. Tiếng nói biến mất sau khi sứ điệp được phát ra, vì điều quan trọng là đón nhận Lời. Người ta cần nghe Lời để hoán cải. Bà Acarie về phần mình, bà đã nghe Chúa gọi ngang qua tiếng kêu của những người bị thương hay đói rách. Nghe tiếng này là nhận biết Thiên Chúa ngang qua các biến cố, là biết phân định lời đáp trả mà Thánh Thần thúc giục trong chúng ta, là vâng theo đòi hỏi nội tâm đặt ra cho chúng ta lúc cầu nguyện.

b) Xóa mình trước mặt Đức Kitô

Nhưng một câu hỏi nẩy lên. Nếu bạn là tiên tri, tại sao bạn không thực hiện một hành vi tiêu biểu của tiên tri như làm phép rửa? Ở đây thánh Gioan từ chối cho rằng việc ông làm là quan trọng, khi ông tuyên bố rằng ông chỉ làm phép rửa bằng nước. Qua cử chỉ thanh tẩy này, mỗi người được mời gọi nhận biết mình là tội nhân để đón nhận ơn cứu độ. Phép rửa Gioan làm không cứu độ được người nào, nhưng việc ông làm giúp người ta ý thức là cần thiết phải đón nhận Đấng Cứu Độ, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới giải thoát con người khỏi tội lỗi của họ (x. Mc 10,27). Căn tính của Gioan Tẩy Giả còn biến mất thêm nữa sau lời ông từ chối. Ông hướng người ta đến một Đấng nhiệm mầu sẽ đến: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết”. Ông không chỉ xóa mình trước Đấng ông loan báo, nhưng ông không cho phép mình xác định căn tính của Đấng ấy: như Thiên Chúa, không ai biết được Đấng ấy là ai; cũng như Thiên Chúa, Người ở giữa dân Người, không phải trong đền thờ Giêrusalem, nhưng trong sa mạc trần gian. Khi làm như thế, Gioan Tẩy Giả không tìm cách che giấu Đấng đang đến là ai, Đấng ấy sẽ tỏ mình cho người ta biết ngang qua sứ mạng của Người. Điều trước tiên, Thánh Gioan ý thức là căn tính của chúng ta nên thành toàn thật sự chỉ khi chúng ta gặp gỡ Đức Kitô, chỉ trong Người căn tính của chúng ta mới hoàn thành. Chỉ mình Thiên Chúa biết chúng ta là ai, vì chỉ mình Người yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vô biên. Chỉ mình Người mới mạc khải cho chúng ta căn tính của mình trong ánh sáng ơn gọi của chúng ta trong Chúa Kitô. Vì thế, chúng ta chỉ biết được mình nếu chúng ta quên mình để chúng ta đón nhận việc biết mình từ Đấng chỉ một mình Người biết chúng ta. Bà Acarie đã sống sự quên mình trong cầu nguyện, sâu xa đến nỗi bà nên một với Chúa Kitô cho đến tận những đau khổ trong cuộc Khổ Nạn của Người .

c) Có lòng tin vào Thiên Chúa

Nghe tiếng gọi đi theo đường lối của Thiên Chúa, chứ không theo đường lối của chúng ta, đó là từ bỏ tự cứu mình để đón nhận Lời Thiên mà chỉ một mình Thiên Chúa có thể thực hiện; điều này khiến chúng ta đặt tin tưởng vào Thiên Chúa dù chúng ta đứng trước bao ngỏ cụt trong đời. Thánh Gioan Tẩy Gia sinh ra từ một người cha bị câm do lỗi đã không tin rằng Thiên Chúa có thể mở một con đường sự sống cho người vợ son sẻ của mình. Việc Gioan sinh ra cho thấy Thiên Chúa hoàn thành lời hứa và Người phục hồi cho cha của ông một lời được đặt dưới dấu hiệu lời ngợi khen (x. Lc 1,20.64). Cuộc đời Thánh Gioan được đánh dấu là khởi đầu dấu ấn của Lời. Thánh Gioan đã hiến thân trọn vẹn đến nỗi ông chỉ là một tiếng hô phục vụ cho Lời… Gioan Tẩy Giả kêu gọi tin vào ơn cứu độ không thể đối với con người, và không ai có thể thấy trước ơn cứu độ ấy sẽ thực hiện như thế nào. Bà Acarie đã có kinh nghiệm về lòng tin vào Thiên Chúa quan phòng ngày qua những thử thách bà gặp. Thiên Chúa sẽ mở một con đường cho người tin là không có một lời nào là không thể đối với Thiên Chúa, ngay cả trong những tình huống thất vọng nhất. Thiên Chúa không thực hiện điều này theo cách chúng ta có thể nghĩ ra, nhưng ân sủng ban cho người không thất vọng, cho người nhận biết Thiên Chúa đến với họ như thế nào. Mùa Vọng mời gọi chúng ta canh tân đức tin của chúng ta vào Đấng đang ở giữa chúng ta mà chúng ta không biết, mời gọi chúng ta nhận biết mình nghèo nàn, vì chỉ khi nghèo nàn chúng ta mới đến được với Đấng đã vì chúng ta Người đã rũ bỏ mọi vinh quang của Người: “Thật tốt lành và ngọt ngào dám nói từ biệt với những phù vân trần thế để gắn bó chỉ một mình Thiên Chúa, Người không bao giờ quên chúng ta, Người không bao giờ làm hại chúng ta nếu chúng ta trước tiên không quên Người”.

Lm. Olivier Rousseau ocd (đan viện d’Avon)

 

     3 . BA ĐIỀU THỰC HÀNH TRONG TUẦN

  • Tôi đã khám phá Thiên Chúa nói như thế nào với tâm hồn tôi ngang qua những biến cố và những đau thương của người khác?
  • Làm sao chúng ta khám phá ra căn tính đích thật của mình trong Chúa Kitô, nhờ cầu nguyện và phục vụ?
  • Đức tin giúp chúng ta như thế nào để tin rằng Thiên Chúa luôn luôn mở cho chúng ta một con đường?

 

  1. MỘT Ý TƯỞNG ĐỂ BẮT ĐẦU GIỜ CẦU NGUYỆN

“Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói” (Ga 1,23).

  1. GỢI Ý ĐỂ CẦU NGUYỆN CHO MỖI NGÀY TRONG TUẦN

Thứ hai ngày 14 tháng 12

Một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en” (Ds 24, 17)

“Ôi Thiên Chúa trên trời cao thẳm, Vua của mọi vua trần thế, Ngài biết tất cả, Ngài không thể là bất cứ người nào trong các thụ tạo của Ngài”.

Thiên Chúa biết những nhu cầu của chúng ta, Người yêu thương điều Người đã tạo dựng: tôi nói lại với Người là tôi yêu Người qua những hành vi thờ lạy trong lòng.

+++

Thứ ba ngày 15 tháng 12

«Ta để lại giữa ngươi một dân tộc nghèo nàn và nhỏ bé; họ lấy danh Ta làm nơi trú ẩn” (Sp 3,1-2.9-13).

“Ôi lạy Chúa của con, Thiên Chúa của con và là Tất Cả của con, con muốn điều này là con có thể làm một linh hồn cho mỗi thụ tạo, và cho mỗi linh hồn, đặc biệt là cho linh hồn con, và xây cho Ngài một vương quốc Nước Trời, trong đó Ngài được vui mừng và bình an mà trao đổi những đau khổ và buồn sầu Ngài đã chịu vì con” (Lời cầu nguyện của Bà Acarie).

Con dọn mình cho Chúa đến bằng một tâm hồn khiêm tốn và nghèo hèn: có điều gì con có thể làm ít lại trong ngày sống của con, trong việc dùng thời giờ, trong chuyện trò của con, ngay cả trong tâm hồn… để con tập trung vào Thiên Chúa hơn?

+++

Thứ tư ngày 16 tháng 12

“Ta là ĐỨC CHÚA, Ta đã làm điều ấy. Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩy mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên. Ta là ĐỨC CHÚA, Ta đã làm điều ấy” (Is 45,6b).

“Thế giới và các thụ tạo trong đó là cuốn sách lớn người ta phải học trong đó yêu thương Đấng Tạo Dựng” (Lời cầu nguyện của Bà Acarie).

Hôm nay tôi chăm sóc công trình Tạo dựng như thế nào, chăm sóc “ngôi nhà chung của chúng ta”?

+++

Thứ năm ngày 17 tháng 12

“Hãy đến, hỡi chì khóa Đavít, mở của Nước Trời”

“Lạy Thiên Chúa của con, xin Ngài gõ cửa các lương tâm, và các bạn hãy nghe”.

Tôi dâng ngày sống để các linh hồn mở lòng ra cho ơn lễ Giáng Sinh.

+++

Thứ sáu ngày 18 tháng 12

“Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21).

“Yêu thương không giới hạn, dâng hiến chính mình, và chúng ta sẽ được tất cả!”

Chính tình yêu Thiên Chúa thanh tẩy chúng ta: tôi cần gì để sống trong thân tình hơn với Người? Tôi có thể tận dụng cuối tuần này, là tuần cuối cùng trước lễ Giáng sinh để đi xưng tội chẳng hạn?

+++

 

Thứ bảy ngày 19 tháng 12

“Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin” (Lc 1,13).

“Ôi Đấng nhân lành vô biên, Ngài là Đấng Cứu Độ rất hiền lành của con, Ngài từ trời xuống trần gian để giao hòa con với Cha Ngài trên trời!” (Những thực hành chân thật)

Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, vui mừng và hoan hỉ vì Người ban ơn cứu độ cho chúng ta.

+++++

Dòng Nam Cát Minh Têrêxa (OCD)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *