TĨNH TÂM MÙA VỌNG ONLINE 2020 – Tuần Thứ Tư Mùa Vọng Năm B

TĨNH TÂM MÙA VỌNG VỚI CHÂN PHƯỚC “LA BELLE ACARIE” (1566-1618)

Người phụ nữ hành động và thần nghiệm, tin vào điều không thể

+++

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

 +++

  1. SỰ PHONG NHIÊU TRONG HỘI THÁNH

 a) “Acarie” người phụ nữ nổi tiếng trong phòng khách

Năm 1599, cuộc sống gia đình bà Acarie trở lại trong lâu đài. Hai vợ chồng phải xây dựng lại sau nhiều năm xa cách. Barbe ở 33 tuổi vẫn còn là một phụ nữ xinh đẹp, nhưng bà không muốn có những quan hệ vợ chồng nữa vì bà bị những thương tích. Về phần Pierre, ông là đã chịu nhiều khổ nhục; ông đã trải nghiệm sự thất sủng và sụp đổ; trong khi người vợ của ông vẫn xinh đẹp cách đặc biệt. Ông cau có và không biết làm việc gì, ông trở nên độc đoán, trong mọi việc ông đều cho mình có lý. Bà Barbe chọn con đường là nghe lời ông trong mọi việc, kể cả những việc nhỏ nhặt nhất.

Từ khi “Liên Minh Thánh” thất bại, bà hiểu là vũ khí chân thật thuộc về lãnh vực thiêng liêng. Cũng trong năm ấy, bà được thị kiến thấy Đức Trinh Nữ với Hài Nhi ngồi trên ngai sáng ngời đặt trên một cái bệ ba tầng. Cha André Duval, cha giải tội của bà, làm chứng là Mẹ Maria đã dạy bà tất cả những điều liên quan đến các cấp độ trong đời sống thiêng liêng. Thật vậy, bà có khả năng phân biệt thần loại một cách đáng kinh ngạc, đến nỗi những nhân vật lỗi lạc phải đến hỏi ý kiến bà. Bà từ chối lời bà Marie de Médicis mời bà đến làm người bạn tâm tình. Phòng khách của bà trở thành khu phố chính của thời Canh Tân công giáo. Các tu sĩ dòng Biển Đức, Chartreux, Xitô, Capucin, feuillant, các thần học gia, các tiến sĩ đại học Sorbonne, các linh mục triều, các thẩm phán, các mệnh phụ có ảnh hưởng trong Triều đình, các bà đạo đức giới thượng lưu, và các các cha giải tội cho Vua đều đến đây. Hồng Y Bérulle, thánh François Salê, rồi thánh Vinh Sơn Phaolô là các vị khách thường xuyên đến đây. Họ trao đổi với nhau về những con đường dẫn đến viêc kết hiệp với Thiên Chúa, và họ cũng nói về tình hình của Hội Thánh bị mất máu sau Các Cuộc Chiến Tranh Tôn Giáo: làm sao thúc giục một cuộc canh tân nơi hàng linh mục và trong đời sống tu sĩ? Cha André Duval, cha giải tội của bà, tuyên bố là “vào thời ngài, người ta không làm gì một cách đáng kể vì vinh quang Thiên Chúa, họ chỉ nói với ngài về điều ấy hay xin ý kiến ngài”.

Bà Barbe đạt đến tình trạng là bà luôn kết hiệp với Thiên Chúa, bà sống với Người cả trong hoạt động và trong cầu nguyện. Bà hoàn toàn đặt đời mình ngoan ngoãn theo những thúc giục của Chúa Thánh Thần, theo như lời cha Duval làm chứng: “Trong trần gian này bà làm được nhiều việc lớn, nhưng bà không bao giờ đặt mình trong tình trạng giải quyết những việc ấy hay làm những việc ấy, nếu bà không biết rõ Thiên Chúa muốn bà làm những việc ấy như thế nào. Nếu bà biết rằng Thiên Chúa không tỏ ra đồng thuận với cảm nghĩ của bà, hoặc nếu sau khi bà đã suy nghĩ chín chắn, bà vẫn còn nghi ngờ, bà không theo đuổi cảm nghĩ của bà nữa, hoặc bà để lại những việc ấy, cho đến khi nào Thiên Chúa soi sáng cho bà một cách rõ ràng. Người ta không chỉ thấy điều này khi Dòng Cát Minh và dòng các bà Ursula được thành lập, nhưng các trong nhiều công trình đặc biệt khác, và bà không bao giờ bắt tay vào việc nếu bà không thấy hay cảm thấy trong mình đó là ý muốn của Thiên Chúa. Cả khi bà không nói đó là việc gì, người ta vẫn thấy bà thường dừng lại một lúc, đi ngược trở lại, bà biết là Thiên Chúa không soi sáng cho bà thấy rõ tâm tình và ý muốn của Người, và Người còn thuyết phục bà làm ngược lại, hay để cho bà bối rối như vậy (…). Một nhân đức lớn và đặc biệt không cho phép bà nói hay làm điều gì trái nghịch với ý kiến hay tâm tình của Đấng là đối tượng duy nhất của lòng bà yêu mến, và là thầy dạy nội tâm của bà”.

b) Người sáng lập dòng Cát Minh ở Pháp

Trong các kế hoạch được bàn thảo ở phòng khách của bà, có một kế hoạch là đưa dòng Cát Minh được Thánh Têrêsa Avila canh tân ở Tây Ban Nha vào nước Pháp. Jean de Brétigny, linh mục vùng Normandi, xuất thân từ một gia đình Tây Ban Nha, thành công làm việc này từ năm 1583. Người dịch sáng tiếng Pháp các tác phẩm của Thánh Têrêsa, và xuất bản từ năm 1601, và được tái bản nhiều lần vì nhiều người ưa chuộng. Dân thành Paris đọc được trong cuốn “Đường hoàn thiện” chương I, § 2, những điều Mẹ Thánh Têrêsa viết năm 1566, năm Barbe sinh ra, về các Cuộc Chiến Tranh Tôn Giáo: “Cũng vào thời ấy, tôi nghe biết về những tổn hại và thương vong ở nước Pháp (…). Điều đó làm tôi đau lòng lắm, và như tôi có thể chỉ nào lo việc ấy, tôi khóc than nài xin Chúa trù liệu phương dược để sửa trị sự dữ như vậy. Xem chừng tôi muốn chết đi ngàn lần để có thể cứu được một trong số bao nhiêu linh hồn hư vong trong nước Pháp ấy (…). Tôi quyết định dùng hết sức yếu hèn của tôi để tuân giữ những lời khuyên Phúc Âm một cách trọn hảo ngần nào có thể, và trù liệu sao cho những chị em, tuy ít ỏi, sống ở đây cũng làm như tôi nữa. Tôi tín nhiệm ở lòng nhân hậu quảng đại của Thiên Chúa, tin rằng không bao giờ Người bỏ rơi mà không giúp những ai vì Người quyết tâm từ bỏ mọi sự”.

Thánh Têrêsa hiện ra trong một thị kiến năm 1602. Việc bà  Barbe sinh ra có thể là Chúa đáp lại lời cầu xin của thánh nữ. Thánh nữ giao cho bà Barbe sứ mạng đưa các đan sĩ Cát Minh vào nước Pháp: “Như tôi đã làm cho ai cũng biết Dòng tại Tây Ban Nha, con cũng hãy phục hưng lòng đạo đức tại Pháp, con có nhiệm vụ làm cho đất nước này được muôn phúc lành”. Tuy nhiên, các thần học gia trước nầy đến tham vấn bà Barbe “không dám theo tinh thần này” vì quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Tây Ban Nha đã gãy đổ. Bảy hoặc tám tháng sau đó, Thánh Têrêsa nhắc lại lời người mời gọi, và bảo đảm với Barbe lần nữa trong một thị kiến mới là đan viện sẽ được thành lập. Lần này thì các nhà thần học đều chịu bị thuyết phục. Barbe bắt đầu tiến hành, bà đến gặp hai công chúa nhờ các bà thúc giục vua cho phép;  nhà vua chấp thuận ngay. Cũng năm ấy, khi đi ngang qua đền thờ thánh Nicolas-du-Port, bà Barbe xuất thần bên cạnh thánh tích của thánh Nicolas-du-Port. Bà nghe thánh Têrêsa gọi bà làm đan sĩ dòng Cát minh, với tư cách là người lo việc trong nhà. Bà hết sức kinh ngạc, vì điều này xem ra không thích hợp với văn hóa và địa vị xã hội của bà lúc bấy giờ, nhưng bà quyết nghe theo tiếng gọi. Giờ đã đến.

Bà chuẩn bị một nhóm lo đón tiếp các đan sĩ Cát Minh đến nước Pháp. Các đan sĩ ở Tây Ban Nha kiên trì phản đối, bà thuyết phục cha Pierre de Bérulle đến Tây Ban Nha để thương lượng. Cha Pierre de Bérulle mang theo các bức thư giới thiệu của nhà Vua, người được Sứ Thần Tòa Thánh ủng hộ, và người đưa được sáu đan sĩ Cát Minh do chính Mẹ Têrêsa đào luyện: Anne de Jésus, Anne de Saint-Barthélemy, Isabelle de Saint-Paul, Isabelle des Anges, Eléonore de Saint-Bernard et Beatrix de la Conception. Trong thời gian này, Bà Acarie theo dõi công trường đang xây dựng nhà Cát Minh đầu tiên ở ngoại ô Saint-Jacques. Bà cũng lập một cộng đoàn các thiếu nữ muốn trở thành đan sĩ Cát Minh để chuẩn bị cho họ tại đây. Sau một hành trình gian khổ, các đan sĩ Cát Minh Tây Ban Nha đã được đón tiếp huy hoàng tại Paris ngày 15 tháng 10 năm 1604.

Sau khi họ đến được hai tháng, một thành công khác là cần mở thêm một nhà Cát Minh nữa ở Pontoise ngày 15 tháng giêng năm 1605. Các nhà Cát Minh liên tục được thành lập với sự hợp tác của bà Acarie: Dijon (cuối năm 1605), Amiens (1606), Tours (1608), Rouen (1609), Châlons et Bordeaux (1610) … Đồng thời, bà Acarie xin bà  Sainte-Beuve thành lập dòng Ursula để chăm lo giáo dục các thiếu nữ. Bà cũng hỗ trợ người em họ là cha Pierre de Bérulle để thành lập dòng Giảng Thuyết. Bà đồng hành với cách dòng khác nhau trong việc canh tân, trong khi vẫn chu đáo lo cho gia đình và chăm sóc chồng mình sức khỏe đang yếu dần.

c) Một công trình của Hội Thánh

Hoa trái phong phú đáng kinh ngạc này là do các biến cố Thiên Chúa quan phòng đã chuẩn bị. Thiên Chúa hoạt động trong những năm bà Acarie phải đảm nhận các công việc gia đình hay các ơn thần nghiệm, nhờ đó Thiên Chúa dẫn bà đến việc dấn thân canh tân Hội Thánh. Hiện tại bà nhận được tất cả những điều Chúa Giêsu ban cho cả trong cầu nguyện và hoạt động. Chúa Kitô, Đấng đầu tiên đã thực hiện chân tính làm con của Người ngang qua sứ mạng Người nhận từ Chúa Cha. Người là một Ngôi Vị và là Con Thiên Chúa. Người đưa chân tính thần linh nhập thể vào trong một hiện hữu người phàm, và trong tâm tình con thảo, Người hoàn thành ý muốn của Thiên Chúa trong trần gian. Đón tiếp Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong nhân tính của chúng ta, là đón nhận cả ơn làm nghĩa tử và ơn mạnh mẽ khiến chúng ta dấn thân phục vụ người khác với lòng hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa. Trong cầu nguyện hay hoạt động, Bà Acarie cảm nghiệm sự thống nhất đời sống, và mọi sự bà nhận được như là một ân huệ của ân sủng. Chỉ có một điều là cần thiết: để cho Thiên Chúa dẫn mình đi, nên phải tỉnh thức mà phân định tác động của Chúa Thánh Thần trước khi bắt tay vào bất cứ việc gì.

Đây không phải là làm được nhiều chuyện tốt lành, vì có nguy cơ tìm kiếm vinh quang riêng mình, nhưng đây phải liều mất mạng sống mình để Thiên Chúa có thể hoàn thành công việc của Người trong mình, một công việc không đo lường bằng số lượng theo sự quan trọng chúng ta thấy được, nhưng đo bằng chất lượng là lòng yêu mến Thiên Chúa như là nguồn mạch của công việc đang làm. Chỉ khi chúng ta đón nhận điều này như là ơn huệ của Thiên Chúa ban, chúng ta mới sống trong sự thật. Ơn Chúa ban kêu gọi chúng ta đáp lại, nhưng việc đáp lại xem như là cần thiết cho nội tâm là dấn thân phục vụ Thiên Chúa mà vẫn tự do đối với mọi bận tâm bản thân. Điều kiện để yêu thương là sống sự tự do như một đòi hỏi của nội tâm, như sự vâng lời đối với điều không chỉ được ban cho, mà còn được nhận biết như ơn huệ của Thiên Chúa.

  1. Truyền tin cho Đức Maria (Lc 1,26-31)

Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.”Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

 Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”

 Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi”.

Mẹ Maria sử dụng tự do không ai sánh bằng. Mẹ đón nhận ơn huệ tuyệt hảo là Con Thiên Chúa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Sứ thần trình bày cho Mẹ người con sẽ sinh ra. Người là Đấng thừa hưởng những lời Thiên Chúa đã hứa suốt triều đại vua Đavít. Việc Người hoàn thành vượt quá điều Người đã hứa: Người sẽ gọi là Con Đấng Tối Cao! Bấy giờ Mẹ Maria chấp nhận tin tưởng mặc dù Mẹ nghi ngờ về khả năng Mẹ hiểu được ý muốn của Thiên Chúa. Mẹ không thể hiểu hết việc Mẹ ưng thuận khi nói XIN VÂNG. Tuy nhiên, việc Mẹ không biết hết không làm tổn hại đến tự do của Mẹ. Mẹ không nói XIN VÂNG mà nội dung của lời này vượt quá hiểu biết của Mẹ, nhưng Mẹ nói với Thiên Chúa mà Mẹ đặt hoàn toàn tin tưởng nơi Người. Khi hết lòng đón nhận lời loan báo về người con Mẹ sẽ sinh ra, Mẹ nói XIN VÂNG với sứ thần loan báo cho Mẹ, và Mẹ chấp nhận không chỉ điều là không ai biết mọi con trẻ sinh ra thế nào, mà cả việc Mẹ không biết gì về ơn huệ Thiên Chúa ban cho Mẹ. Mỗi người được mời gọi đánh thức tự do của mình mà nói XIN VÂNG với ơn huệ sự sống, nhưng ơn đức tin vào Chúa Kitô làm cho chúng ta nhận biết trong ơn này là ơn của chính Thiên Chúa. Trong khi lắng nghe Lời Chúa, tiếng XIN VÂNG với sự sống trở thành một tiếng XIN VÂNG với Thiên Chúa. Do đó, cuộc đời mỗi người không có hướng đi nào khác hơn là hướng về Thiên Chúa: Người được gọi là Con Thiên Chúa. Khi đón nhận người con này, Mẹ Maria nói XIN VÂNG với một cuộc sống hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa.

Chúng ta cũng được mời gọi ưng thuận là cuộc đời chúng ta như một cuộc sống không có một hướng đi nào khác hơn là hướng về Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể, Ngôi Lời duy nhất. Trong Người, mọi sự sống tìm thấy ý nghĩa và sự sung mãn của mình. Chúng ta được mời gọi khám phá ý nghĩa cuộc đời mình trong Chúa Giêsu Kitô. “Làm sao việc ấy xảy ra được?” Chúng ta không có một giải đáp nào khác ngoài giải đáp sứ thần đã nói cho Mẹ: đó là công việc của Chúa Thánh Thần và quyền năng Đấng Tối Cao vượt quá mọi điều chúng ta có thể hiểu. Tuy nhiên, Người không thực hiện điều ấy mà không có chúng ta: chúng ta phải làm bước nhảy của lòng tin tưởng để đón nhận Lời này trong thân phận làm người mong manh. Lễ Giáng Sinh là một lời mời gọi sống hành vi tin tưởng hoàn toàn này, tiếng XIN VÂNG này của sự tự do đích thật để theo chân Mẹ Maria, nhận trách nhiệm về Lời Chúa. Thiên Chúa mời gọi chúng ta làm điều này và Người đổ đầy trong chúng ta ân huệ của Người để chúng ta ưng thuận cho Lời Người đến cư ngụ trong chúng ta, để mở tâm hồn chúng ta cho Người. Trong một thế giới đầy bất trắc, Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta. Chuẩn bị lễ Giáng Sinh là học lắng nghe Lời này nổi lên giữa những điều bất ngờ trong cuộc sống. Đón nhận THiên Chúa đang nói với con người, là phân định các ơn Người ban cho chúng ta và đáp lại lời Người mời gọi khi ban những ơn ấy. Cuộc đời là ơn huệ và tình yêu là đón nhận ơn huệ này với lòng tin tưởng và chấp nhận điều không biết đến: Lễ Giáng Sinh mời gọi chúng ta đón nhận ơn huệ Thiên Chúa ban cho chúng ta không chỉ là ơn huệ sự sống, mà cả Sự Sống thần linh khi Người sinh ra trong xác phàm. Người là Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Fr. Olivier Rousseau ocd (đan viện d’Avon)

 

  1. BA ĐIỀU THỰC HÀNH TRONG TUẦN
  • Nhận biết các ơn huệ Thiên Chúa ban cho tôi để phục vụ công việc của Người.
  • Phân định các tiếng gọi vang lên trong tôi như là một đòi hỏi nội tâm
  • Ngang qua tiếng xin vâng, tôi ưng thuận đón nhận sống như ơn huệ Chúa ban, tôi nói XIN VÂNG với ơn huệ Sự Sống mà Thiên Chúa ban cho tôi trong Con của Người.

 

  1. MỘT LỜI CHÚA ĐỂ CẦU NGUYỆN

Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1,38)

 

  1. CẦU NGUYỆN MỖI NGÀY TRONG TUẦN

Thứ hai 21 tháng 12

“Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa” (Lc 1,39).

“Chúng ta phải vui mừng hoan hỉ, khi làm việc bác ái, và sẵn sàng dồn hết tâm lực làm việc này” (Riti 2236-Sr Anne de St Laurent – folio 74 recto).

Trong mùa Giáng sinh này, tôi làm gì và làm việc gì để tôi có thể cứu giúp những người túng thiếu?

+++

Thứ ba 22 tháng 12

“Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!

Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1,49-50).

“Ôi lạy Thiên Chúa Đầy Lòng Thương Xót! Xin Người đoái thương nhìn đến thụ tạo khốn cùng của Người, xin thương xót con!” (Riti 2235-Mère Jeanne Séguier – folio 824 verso).

Lòng Thương Xót của Chúa diễn tả ra bên ngoài như thế nào trong tôi, làm thế nào để  Lòng Thương Xót đi xuyên qua các hành vi, lời nói của tôi…?

+++

Thứ tư 23 tháng 12

 “Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai. Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà” (Lc 1,57-58).

“Ôi Thiên Chúa toàn năng, Đấng Tạo Thành trời đất, Người là Sự Sống của con, Người là mọi Thiện Hảo và Hạnh phúc của con, con muốn ca ngợi và chúc tụng Người muôn đời về bao ân huệ từ khi con được sinh ra và Người đã vui thích cứu chuộc con, ôi Đấng Yêu Mến của con!”

Tôi tạ ơn Chúa về những điều tốt lành Người đã làm trong đời tôi và tôi muốn nhắc lại với Người hôm nay.

+++

 Thứ năm 24 tháng 12

“ĐỨC CHÚA báo cho ngươi biết là ĐỨC CHÚA lập cho ngươi một nhà” (2 Sm 7,11).

“Linh hồn tôi ơi, hãy nói cho tôi biết là bạn không diễm phúc sao, nếu bạn tìm được một nơi nghỉ ngơi với Chúa bạn, và tôi nói thật: Đấng đã tạo dựng nên tôi đã tìm nơi nghỉ ngơi trong nhà tạm linh hồn tôi”.

Thiên Chúa ở trong chúng ta. Làm thế nào tôi mang Thiên Chúa đến những người chung quanh tôi và tôi đón tiếp họ để mừng lễ?

 +++

 Thứ sáu 25 tháng 12

“Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2,16).

 “Một Thiên Chúa, một Thiên Chúa hạ mình đến nỗi trở nên trẻ nhỏ vì yêu thương chúng ta! Khi nào thì chúng ta sẽ là bé nhỏ dưới con mắt chúng ta, để bắt chước Hài Nhi Chúa chúng ta?” (Riti 2236-Mère Marie de St Joseph – folio 130 recto).

Tôi chiêm ngắm Đấng Cứu Độ tôi trong máng cỏ… sự khiêm tốn của tình yêu, tinh thần trẻ nhỏ: tôi mở lòng ta để cho lòng nhân hậu của Trái Tim Thiên Chúa xâm chiếm, Người trở nên bé nhỏ vì Người yêu thương tôi.

+++

Chuyển dịch từ bản văn tiếng Pháp: Lm. Đặng Quang Tiến


Dòng Cát Minh Têrêxa Việt Nam chúng con xin tri ân cách đặc biệt đến quí dịch giả, vì đã cho phép chúng con được sử dụng bản dịch chương trình tĩnh tâm online này của quý vị để chia sẻ đến quí độc giả của nhà Dòng và các thành phần dân Chúa xuyên suốt Mùa Vọng 2020 này. Xin Chúa trả công bội hậu cho sự tận tụy và lòng quảng đại của quý vị. Nguyện chúc quý vị cùng gia đình một mùa Giáng Sinh bình an, thánh thiện và một năm mới 2021 nhiều hồng ân và sức khỏe của Đấng Em-ma-nu-en. Trân trọng kính chào.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *