Thư của Cha Tổng quyền Saverio Cannistra gửi các nữ đan sĩ Cát Minh Têrêxa

Gởi các nữ đan sĩ Cát Minh Tê-rê-xa

Roma, ngày 20 tháng 04 năm 2021

Chị em quí mến,

Hôm nay đánh dấu kỷ niệm lần thứ 12 của việc tôi phục vụ Dòng Cát Minh Tê-rê-xa trong tư cách là Bề trên Tổng quyền. Như đã diễn ra tôi đã được bầu vào ngày 20 tháng 04 tại Fatima. Trong nghi thức bầu cử, khi tôi được hỏi: “Cha có chấp nhận không?” Tôi tin tôi đã trả lời: “Vâng, tôi chấp nhận” tin tưởng rằng đây là ý Chúa. Và trong thâm tâm, tôi đã thêm vào: “mặc dù (hoặc chính xác là bởi vì) điều đó tuyệt đối không thể hiểu được khi nghĩ mình là ai, với hầu như không chút kinh nghiệm (chỉ mới một năm làm bề trên giám tỉnh của một tỉnh dòng nhỏ bé) và gần như với tuổi đời quá trẻ cho sứ vụ này (Tôi mới 50 tuổi)”. 12 năm sau, và giờ đây gần cuối nhiệm kỳ của mình, tôi chỉ có thể tạ ơn Chúa vì đã gọi tôi vào trách nhiệm này. Thậm chí khi ý thức về nhiều thiếu xót đã phạm và còn nhiều thứ khác lẽ ra tôi đã phải làm tốt hơn, tôi vẫn tạ ơn Chúa và các anh chị em đã đón nhận tôi với tình cảm lớn lao và đã bày tỏ lòng biết ơn đối với tôi lớn hơn những gì tôi xứng đáng được hưởng. Dường như với tôi, tôi đã cho đi mọi thứ tôi có và tôi là dù tốt hay xấu, nhưng trên hết tôi biết rằng tôi đã nhận được rất nhiều từ một gia đình được Chúa chúc phúc và là người gìn giữ một quà tặng ân sủng vô giá cho đời sống của Giáo hội và của thế giới.

Một phần của kinh nghiệm độc nhất này mà nó đã hình thành nên tôi và làm tôi thay đổi trong nhiều khía cạnh chính là tương quan với các chị và các mẹ yêu quí của tôi. Tôi đã học được nhiều điều về các chị và từ các chị. Trước đây, hiểu biết của tôi về các chị khá hạn hẹp. Trên hết, tôi đã không hiểu mối liên kết chúng ta với nhau sâu xa như thế nào và những con đường của chúng ta ra làm sao và phải không tách rời nhau như thế nào. Dĩ nhiên là chúng khác biệt để có sự bổ trợ và làm giàu lẫn nhau như mẹ thánh Tê-rê-xa khao khát nhưng cũng lưu ý là sự khác biệt và tự trị không trở thành khoảng cách tạo nên những con người xa lạ không thể trao đổi với nhau cách sâu xa. Trong những năm vừa qua tôi thường nói về tầm quan trọng của mối liên hệ hiệp thông gia đình và việc trao đổi bình đẳng giữa chúng ta với nhau và tôi vẫn xác tín rằng đây là một trong những con đường mà việc canh tân của Dòng phải đi qua. Canh tân chúng ta có nghĩa là canh tân các tương quan của chúng ta. Chúng ta biết rằng đối với nhánh nam của Dòng, tương quan với nhánh nữ không phải là một khía cạnh thứ yếu hay ngẫu nhiên nhưng nằm ở chính nguồn gốc của sự hiện hữu của nó. Chúng tôi, anh em nam thường hổ thẹn về điều này. Chúng tôi đã cố gắng che dấu và quên nó nhưng mỗi khi chúng tôi làm vậy là chúng tôi có nguy cơ đánh mất căn tính của mình và biến mình thành một cái gì đó thay cho những gì Thánh Thần đã đề nghị với thánh Tê-rê-xa dù là một nhóm các ẩn sĩ hay là một hiệp hội đời sống tông đồ. Sự quân bình mang đặc tính Tê-rê-xa giữa chiều kích ẩn tu và chiều kích cộng đoàn cũng như phẩm chất đặc thù của thánh nữ về đời sống chiêm niệm mà đời sống chiêm niệm này không tách biệt nó khỏi lịch sử nhưng nhận lấy lịch sử và mang lịch sử vào trong mối tương quan với Thiên Chúa, một cách nào đó được nối kết với sự đúng đắn của mối tương quan giữa những anh em và chị em. Trong sự tạo dựng của Thánh Thần mà chúng ta gọi là đoàn sủng, có một sự quân bình như thế giữa các bộ phận mà nếu một chiều kích bị suy yếu hoặc bị loại bỏ thì nó đem lại những hệ lụy cho sự hòa hợp tổng thể. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng sự viên mãn của kinh nghiệm về đoàn sủng Tê-rê-xa, “vẻ đẹp núi Cát Minh”, chỉ xảy ra trong sự toàn nhập của hai cách sống nó. Đó là cách sống của các chị em và của các anh em. Chúng ta phải bước đi với hai chân, thở bằng hai lá phổi, cảm nhận cả hai như là những chi thể, những bộ phận của cùng một thân thể.

Tôi không có ý mô tả mối tương quan này theo cách bình dị bởi vì như thế là không đúng. Chúng ta không nên nuôi dưỡng mình bằng những sự ảo tưởng mà nó sẽ nhanh chóng bị thực tế đào thải nhưng là được những xác tín nuôi dưỡng, trước và trên hết là để chiến đấu vì chúng ở bên trong chúng ta và sau là để trung thành giữa những thử thách và khó khăn. Nếu chúng ta suy nghĩ về tương quan giữa chúng ta với nhau ở cấp độ cá nhân và cộng đoàn, tôi tin rằng chúng ta sẽ cảm thấy nhu cầu cần xin sự tha thứ vì đã có nhiều sai phạm “trong tư tưởng, lời nói và việc làm cũng như trong những gì chúng ta chưa làm được”. Nhưng một tương quan chân thực chỉ hiện hữu và tăng trưởng trong sự xung đột này giữa ánh sáng và bóng tối, giữa việc chống lại “con người cũ” và đi theo những gợi hứng của một thụ tạo mới, của những thành kiến cần vượt qua và sự tự do để đạt đến. Đây là một hành trình đầy thách đố đòi hỏi năng lượng, thời gian và niềm say mê. Trong tất cả mọi sự, cung cấp các dịch vụ hữu ích là điều dễ dàng. Xây dựng một tương quan nhân bản và thiêng liêng vững chắc để chúng ta có thể cậy dựa vào đó mới là điều khó. Nhưng đây lại là điều chúng ta cần đến: để nâng đỡ lẫn nhau, để thấy rằng chúng ta thực sự được nâng đỡ và rằng khi người kia mất đi thì một khoảng trống sẽ được hình thành khiến có nguy cơ làm cho chúng ta ngã gục. Thánh Tê-rê-xa sẽ nói rằng chúng ta phải “nâng đỡ lẫn nhau để tiến về phía trước”[1].

Nếu tôi đã cầm bút để viết cho chị em, thì đó không chỉ là để dâng lời cảm ơn chị em về những lời cầu nguyện và tình cảm chị em dành cho tôi mà nhờ đó tôi đã được nâng đỡ củng cố trong những năm qua nhưng cũng là để mời gọi chị em hợp lực với nhau. Để thực hiện dự phóng tái lập dòng Cát Minh, thánh Tê-rê-xa đã tìm kiếm đồng minh. Ngài đã tìm thấy rất ít nhưng thực ra nếu không có họ ngài đã không thể hoàn thành sứ mạng của mình bất kể tất cả những ân sủng mà Chúa đã ban cho ngài. Điều gây ấn tượng khi đọc các tác phẩm của ngài là sự minh mẫn mà nhờ đó một đàng ngài nhận ra sự lớn lao của công việc ngài được mời gọi thực hiện, đàng khác ngài cũng nhận ra sự nhỏ bé của mình và nhu cầu cần được người khác giúp đỡ, các cố vấn, người hướng dẫn và bạn đồng hành và vì lý do này ngài đã không ngừng cầu nguyện với Chúa cho những người này. Khi ngài tìm thấy anh chị em có thể hiểu và chia sẻ cuộc phiêu lưu của ngài, ngài thực hiện một cam kết vững chắc về tình bạn và giao ước với họ vượt trên những cảm tính và tình cảm. Thánh Tê-rê-xa biết rằng ngài là một phụ nữ dễ bị tổn thương trong các tương quan với người khác, nhưng sau một cuộc chiến đâu lâu dài và mệt mỏi, ngài được ban cho sự bình an tâm hồn thoát khỏi mọi lệ thuộc tình cảm. Công việc ngài đang thực hiện càng mặc lấy những hình hài cụ thể thì ngài càng dấn thân vào công việc đó chiến đấu và yêu thương, đau khổ và hân hoan, hy vọng và run rẩy. Nhiều kẻ thù xuất hiện nhưng đồng thời cũng có vài người bạn chân thật, nhưng như thế cũng đã đủ để ngài tiến bước.

Đối với chúng ta, nhớ lại những sự kiện của quá khứ, kinh nghiệm của con người mà từ đó chúng ta đã đi vào hiện hữu là điều rất hữu ích bởi vì nếu hôm nay chúng ta cảm thấy nhu cầu cần được tái sinh và tái khám phá tinh thần nguyên thủy thì điều đó chỉ xảy ra nhờ có những kinh nghiệm tương tự. Một đời sống mới luôn được sinh ra từ những nỗi đau và rủi ro của việc sinh con. Chị em không mua được nó cũng như không tạo ra nó bằng sắc lệnh. Các sắc lệnh chỉ đến sau để công nhận công trình mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi chúng ta. Có lẽ hạn từ “tái sinh” sẽ là hơi quá đối với một số người. Thế nhưng đời sống thiêng liêng của mỗi chúng ta được hình thành từ rất nhiều cái chết và sự tái sinh và chỉ có cách này sự sống ấy được gìn giữ sống động. Con đường của con người không phải là con đường thẳng với một chuyển động đều, con đường của cộng đoàn tu trì cũng thế nếu chúng ta không muốn giản lược nó thành một sơ lược tiểu sử về mặt thể chế của nó. Bản chất của các thể chế là bền vững và có thể đo lường về số lượng: chúng ta có thể đếm được bao nhiêu thành viên của Dòng hoặc có bao nhiêu cộng đoàn, bao nhiêu ơn gọi đến rồi lại ra đi, một đan viện được thành lập đã bao nhiêu năm, con số các nhà, số lượng các nguồn lực tài chính. Đây là những thông tin quan trọng làm cho chúng ta ý thức về thực tại khách quan của thể chế và giúp chúng ta có thể tiên đoán được về tương lai gần của nó. Tuy vậy, sống thì còn hơn và khá khác biệt với việc điều hành một thể chế rất nhiều. Một trong những mối nguy và có lẽ là mối nguy lớn nhất của thời đại của chúng ta là quên mất sống có nghĩa là gì đối với một con người và một Ki-tô hữu cũng như xác tín rằng hiện hữu được phân chia giữa thời gian làm việc để làm cho cơ cấu hoạt động và thời gian rảnh rỗi để không còn phải tập trung và để làm giảm những căng thẳng. Nếu tình cờ mà cái nhìn này về cuộc sống và một người như thế đã vào các cộng đoàn của chúng ta và linh hồn của chúng ta, thì lúc đó cần có một cuộc tái sinh để qui hàng và bắt đầu lại. Thực ra, bạn làm việc cho thể chế nào, công ty nào không phải là điều quan trọng: điều quan trọng là hiểu rằng chúng ta cũng đã trở nên một thành phần của một hệ thống mà đã quen với làm việc thay vì hiện hữu hay chưa[2]. Ngay cả dịch bệnh mà chúng ta đang ngụp lặn trong đó đã hơn một năm qua, chúng ta có nguy cơ chỉ nghĩ về nó và sống với nó như thể nó chỉ là một chiếc máy bị mắc kẹt, đang đợi nó hoạt động trở lại như trước đây và thậm chí tốt hơn trước đây.

Đây không phải là chỗ để đào sâu phân tích về mặt triết học và xã hội học về thời đại mà chúng ta đang sống nhưng chúng ta cũng không thể không suy tư một cách nghiêm túc về nó như thể khoảng không gian bên trong các tu viện và đan viện của chúng ta không bị tác động và ảnh hưởng bởi não trạng của thế giới hôm nay. Chúng ta biết rõ rằng nó không phải như vậy và nó không thể như vậy. Chúa không đưa các môn đệ ra khỏi thế gian nhưng ban cho họ nhờ quà tặng của Thánh Thần, sự tự do để không thuộc về thế gian (Jn 15:19). Thuộc về Chúa có nghĩa là không thuộc về thế gian và điều này ngụ ý một cuộc chiến đấu và tỉnh thức đối với chính mình. Nếu sự chú ý của chúng ta bị những bận tâm khác lấy đi và sự tự do suy nghĩ và hành động của chúng ta bị điều kiện hóa bởi môi trường chung quanh chúng ta, chúng ta có thể bỏ cuộc chiến đấu xem như đã thất bại. Cái nhìn của chúng ta bị lu mờ và chúng ta không còn có thể thấy đằng sau bề mặt để phân biện những dấu chỉ của sự hiện diện của Thiên Chúa và những hạt giống của tương lai mà Ngài gieo vào cuộc sống của chúng ta. Như thế chúng ta tước đoạt Hội thánh và thế giới sự phục vụ chân thực và thiết yếu nhất của chúng ta. Thực ra, ngoài các tu sĩ và những người chiêm niệm thì ai là người giúp Giáo hội và thế giới nhìn thấy kết hoạch của Thiên Chúa được đan quyện trong cơ cấu phức tạp của xã hội với đôi mắt ngôn sứ rõ ràng? Hãy nhớ lại lời động viên của Đức giáo hoàng Phan-xi-cô dành cho chị em: “Hãy là những ngọn đuốc hướng dẫn những người nam người nữ trong hành trình đi qua đêm tối cuộc đời của họ. Hãy là những lính gác của buổi sáng đón chào bình minh. Bằng đời sống được biến hình của chị em và bằng những lời đơn sơ được suy tư trong thinh lặng hãy chỉ cho chúng tôi Đấng là đường, là sự thật và là sự sống, Thiên Chúa, Đấng duy nhất đem lại cho chúng ta sự viên mãn và sự sống dồi dào”. Và Đức thánh cha kết luận: “Hãy ấp ủ giá trị ngôn sứ của đời sống tự hiến của chị em” (VDQ 6). Đây chính là tất cả mọi sự: nuôi dưỡng tính ngôn sứ vốn có trong ơn gọi Cát Minh Tê-rê-xa của chúng ta.

Chị em quí mến, tôi không bi quan tí nào. Làm sao tôi có thể bi quan sau những năm tháng sống tiếp xúc với rất nhiều người yêu mến Chúa và vui vẻ trao ban cuộc sống của họ? Tôi dám chắc rằng ngọn lửa của Thần Khí không tắt nhưng vẫn đang cháy và được gìn giữ như những hòn than dưới đống tro tàn chờ đợi một hơi thở mới để phục hồi nó. Chúng ta phải cầu nguyện để hơi thở này của sự sống sẽ vẫn còn thổi vào Dòng Cát Minh. Nhưng chúng ta cũng phải giúp nhau “thức tỉnh chính mình” như thánh Tê-rê-xa đã thích nói như thế. Đây không phải là lúc lo lắng về “những điều không mấy quan trọng”[3]. Tôi đau đớn khi nhận thấy rằng thường chính những điều không mấy quan trọng này đã chiếm giữ chúng ta, làm mất thời giờ và năng lượng về những điều không mang lại sự sống hoặc là về những điều đã chết rồi đang khi đó lại lơ là về việc kín múc những nguồn nước hằng sống. Trong những năm gần đây tôi được đồng hành bởi một câu từ Sách Châm Ngôn mà tôi đã đề cập vài lần, một câu đặc biệt thân thiết với một tác giả, thực ra là một nhân chứng là Dietrich Bonhonffer. Bằng sự rõ ràng mang tính ngôn sức, ông đã nhận ra những thách đố của Giáo Hội trong thời đại của chúng ta: “Trên hết mọi sự khác, hãy canh chừng con tim của các bạn bởi vì đây chính là nguồn mạch của sự sống” (Cn 4:23). Tôi sợ rằng chúng ta đang không canh chừng con tim của mình cho đủ, chúng ta đang không lắng nghe nó và chúng ta đang không đối xử và vun trồng nó. Vì vậy, những gì mà truyền thống đan tu gọi là “thần dữ” dễ dàng lẩn trốn ở trong đó. Đây là vấn đề đáng được quan tâm: Ai đang sống trong trái tim tôi? Tôi đã đặt chìa khóa của nó vào tay ai? Chúng ta nghĩ rằng chúng ta là những chủ nhân của nó và chân thành muốn trao nó cho người Bạn và là Chúa của chúng ta nhưng trong thực tế thì thường không phải vậy. Đang khi không nhận ra, chúng ta đã để cho những thần dữ vào trong mình và các cộng đoàn của mình và chúng bây giờ tự do đi lại và hướng dẫn chúng ta hướng về những ngõ cụt của sự trần tục.

Chúng ta cần nói về tất cả những điều này để giúp nhau như là anh chị em của nhau, để hình thành một mặt trận chung chống lại sự xâm lăng này mà nó tước đoạt chúng ta điều duy nhất làm cho sống cuộc sống này xứng đáng với nỗi đau: Sự triệt để của một con tim dâng hiến cho Chúa Giê-su và Lời của Ngài mà không giữ lại gì. Chúng ta không cần đến những cuộc trở về quá khứ trong sự sợ hãi hoặc là những chuyến bay ảo tưởng tiến về tương lai. Dường như với tôi cả hai đều là những sự lãng tránh đối diện với vấn đề hiện tại. Một tương lai xứng đáng với quá khứ của chúng ta sẽ không được đảm bảo bởi con số các cộng đoàn, cũng không bởi số ơn gọi, cũng không bởi số hoạt động mà chúng ta sẽ có thể thực hiện. Nó chính là sự can đảm đi tìm sự thật cả bên trong và bên ngoài chúng ta và để đưa ra những quyết định phù hợp với những gì chúng ta đã nhận ra là chân thật cho dù nó không đáp ứng với những gì thế gian mong đợi hay là không còn phù hợp với những gì đã được thực hiện cho đến lúc này. Không còn gì phải nghi ngờ rằng trong những năm tới chúng ta sẽ càng ngày càng ít phát triển nhưng điều đó chẳng làm tôi bận tâm. Nếu chúng ta tách mình, nếu chúng ta để mình bị chi phối bởi những bận tâm của thế gian và của xác thịt, thường được ngụy trang dưới những hình thức thiêng liêng và tôn giáo thì đúng là chúng ta sẽ có điều để lo sợ.

Tôi phó thác cho những lời cầu nguyện của chị em hết mọi sự liên quan đến việc chuẩn bị cho Tổng Tu Nghị sắp tới. Tôi biết rằng chúng tôi sẽ không bao giờ thiếu sự nâng đỡ thiêng liêng và huynh đệ của chị em. Nguyện xin Mẹ Maria là người dẫn dắt và thầy dạy của chúng ta trong việc đón nhận Ngôi Lời và để cho Ngài mặc lấy thân xác giữa chúng ta.

Người anh em của chị em trong Dòng Cát Minh,

Br. Saverio Cannistra, OCD

Chuyển ngữ từ bản tiếng Anh: Lm. Fx Nguyễn Quách Tiến, OCD

[1] Tự thuật 7:22: “Với những ai phục vụ Chúa thì họ cần trở thành những thành trì cho nhau để họ tiến bước”.

[2] Tôi đang nói tới nhan đề của cuốn sách của M. Benasayag, Funzionare o esistere?, Vita e Pensiero, Milan 2019.

[3] Đht 1:5 “negocios de poca importancia”.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *