THÁNH TÊRÊXA BÊNÊDICTA THÁNH GIÁ, OCD: TÔI ĐÃ ĐẾN CÁT MINH COLONIA NHƯ THẾ NÀO

TÔI ĐÃ ĐẾN CÁT MINH COLONIA NHƯ THẾ NÀO

Đan nữ Marie Louise, OCD chuyển ngữ- Lm. Fx Nguyễn Quách Tiến, OCD hiệu đính

     Có lẽ sau lễ Giáng sinh tôi sẽ rời khỏi nhà này. Những hoàn cảnh khiến cho việc tôi chuyến đến Echt (Hà Lan) là cần thiết làm tôi nhớ lại cách sống động về những điều kiện của thời điểm tôi bước vào đan viện. Giữa chúng tồn tại một mối liên hệ sâu sắc.

     Đầu năm 1933, khi “Đệ tam Đế chế” được thành lập, tôi làm giảng viên tại Viện Sư phạm Đức ở Münster, Westphalia đã được một năm. Tôi sống tại “Collegium Marianum” với một số lớn các sinh viên tu sĩ từ nhiều hội dòng khác nhau và một nhóm nhỏ các sinh viên khác, dưới sự tận tâm chăm sóc của các nữ tu của Dòng Đức Bà. Một buổi chiều Mùa Chay, tôi về nhà muộn sau cuộc họp của Hiệp hội các học giả Công giáo. Tôi không biết mình quên chìa khóa hay có chìa khóa khác cắm ở ổ khóa bên trong. Bằng mọi cách tôi không thể vào được nhà. Với chuông cửa và tiếng vỗ tay, tôi đã cố xem liệu ai đó ngó ra ngoài cửa sổ, nhưng vô ích. Những sinh viên ngủ trong các căn phòng quay mặt ra đường đã đi nghỉ hè. Một người đàn ông đi ngang qua đó hỏi tôi xem ông ấy có thể giúp gì cho tôi. Khi tôi quay về phía ông, ông ấy cúi đầu cách kính trọng và nói “Tiến sĩ Stein, bây giờ tôi đã nhận ra cô”. Ông từng là giáo viên Công giáo, một thành viên của Hiệp hội Học Viện Lao Động. Ông xin phép đi một lát để nói chuyện với vợ ông, đang đi phía trước cùng với một người phụ nữ khác. Ông nói vài câu với bà ấy rồi quay sang tôi. “Phu nhân của tôi mời cô với tất cả tấm lòng đến ở nhà chúng tôi đêm nay”. Đó là một giải pháp tốt; tôi chấp nhận và cám ơn họ. Họ đưa tôi đến một ngôi nhà đơn sơ của giai cấp tư sản. Chúng tôi ngồi ở phòng khách. Vị phu nhân tốt bụng đặt một đĩa trái cây lên bàn rồi đi chuẩn bị phòng cho tôi. Chồng bà ấy bắt đầu nói chuyện và kể cho tôi nghe những gì mà các tờ báo Hoa Kỳ đã thuật lại về những hành động tàn ác chống lại người Do Thái. Đó là những tin tức vô căn cứ mà tôi không muốn nhắc lại. Chỉ bây giờ tôi có ấn tượng làm sống lại những gì đã xảy ra đêm đó. Tôi đã nghe nói về các biện pháp tàn ác chống lại người Do Thái. Nhưng rồi một ánh sáng đến với tôi, rằng một lần nữa Chúa lại giáng nặng bàn tay lên dân của Người và rằng số phận của dân này cũng là số phận của tôi. Tôi đã không để cho người đàn ông ở với tôi biết điều đang xảy ra trong tôi lúc bấy giờ. Ông ấy không biết gì về nguồn gốc của tôi. Trong những trường hợp như vậy tôi thường đưa ra những nhận xét phù hợp. Lần này tôi đã không làm như vậy. Tôi nghĩ lòng hiếu khách sẽ bị tổn thương đến thế nào nếu những tin tức như vậy làm xáo trộn giấc ngủ đêm.

     Thứ Năm Tuần Thánh, tôi đi đến Beuron. Kể từ năm 1928, tôi luôn tham dự Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh tại đó mỗi năm, đi tĩnh tâm trong thinh lặng. Lần này tôi có một động cơ đặc biệt. Trong những tuần gần đây, tôi không ngừng tự hỏi liệu tôi có thể làm gì đó liên quan đến vấn nạn về người Do Thái. Cuối cùng tôi đã lên kế hoạch đi Roma và xin tiếp kiến riêng với Đức Thánh Cha để xin người ban hành một thông điệp. Tuy nhiên tôi không muốn làm điều này theo ý riêng tôi. Tôi đã khấn lời khấn riêng từ cách đây vài năm. Kể từ khi tôi gặp được ở Beuron một thể thức của miền đất đan tu, nhận ra trong Viện phụ Raphael “Viện phụ của đời tôi”, tôi trình bày cho ông mọi vấn đề quan trọng để đưa ra quyết định. Tôi không chắc rằng mình có thể gặp được Viện phụ. Ông đã khởi hành đi Nhật Bản vào đầu tháng giêng. Nhưng tôi biết rằng ông sẽ cố gắng hết sức có thể để hiện diện ở đây trong Tuần Thánh.

     Mặc dù đưa ra một bước cụ thể bên ngoài như vậy là cách rất riêng của tôi, tuy nhiên tôi cảm thấy nó vẫn chưa phải là cái “hợp thời”. Cái “hợp thời” hệ tại ở điều gì thì tôi cũng chưa biết. Tôi dừng lại ở Colonia từ chiều thứ Năm cho đến sáng thứ Sáu. Tôi quen một nữ tân tòng đang sống tại đây, người mà bằng mọi cách tôi phải dành cho cô ấy chút thời gian. Tôi viết thư báo cho cô ấy biết nơi chúng tôi có thể tham dự Giờ Thánh vào buổi chiều. Đó là giờ kinh chiều nhất của thứ Sáu đầu tháng Tư, và trong “Năm Thánh” 1933, Giáo Hội cử hành long trọng hơn lễ kỷ niệm Cuộc Thương Khó của Chúa chúng ta. Vào lúc tám giờ chiều, chúng tôi gặp nhau trong Giờ Thánh tại Đan viện Cát Minh Colonia-Lindenthal. Vị linh mục (cha xứ nhà thờ Wüsten, như tôi được biết sau này) trong bài giảng loan báo từ này về sau sẽ có việc cử hành này vào mỗi thứ Năm. Ngài giảng rất hay và cảm động, nhưng tôi bận tâm đến một điều sâu xa hơn những lời nói của ngài. Tôi nói với Đấng Cứu Thế rằng thập giá của Người giờ đây được đặt trên dân Do Thái. Phần đa số không hiểu được điều này, nhưng những ai đã nhận biết điều đó, cần phải tự do vác lấy thập giá này nhân danh mọi người. Tôi muốn làm điều đó. Chính Người phải chỉ cho tôi biết bằng cách nào. Khi kết thúc nghi lễ, trong thâm tâm tôi có một sự xác tín rằng Chúa đã nhậm lời tôi. Nhưng nơi nào tôi phải vác lấy thập giá, điều đó tôi vẫn chưa được biết.

     Sáng hôm sau tôi tiếp tục hành trình đến Beuron. Vào lúc choạng vạng tối khi chuyển tàu ở Immendingen, tôi gặp Cha Aloys Mager. Chúng tôi đã làm việc chung với nhau trong dự án sau cùng. Ngay sau khi chào hỏi, ngài báo cho tôi thông tin quan trọng nhất của Beuron: “Sáng nay Viện Phụ đã từ Nhật Bản trở về bình an vô sự”. Như vậy mọi sự đã được ổn thỏa. Theo thông tin từ Roma cho tôi biết vì lịch trình dày đặc, tôi sẽ không có khả năng có được một cuộc tiếp kiến riêng. Chỉ với một cuộc gặp gỡ nhỏ (theo nhóm) mới có thể giúp gì đó cho tôi. Nhưng điều đó không đủ đối với tôi, vì lý do đó tôi từ bỏ chuyến đi của mình, và thay vào đó tôi quyết định viết thư. Tôi biết là thư của tôi được trao cho Đức Thánh Cha với nguyên con dấu niêm phong. Một thời gian sau tôi nhận được phép lành của Đức Thánh Cha cho tôi và gia đình tôi. Không có gì khác đã được thực hiện. Sau này nhiều lần tôi nghĩ liệu nội dung bức thư của tôi có hiện lên trong tâm trí Đức Giáo Hoàng không, khi mà trong những năm tiếp theo, đã xảy ra từng điểm một những gì tôi đã tiên báo về tương lai Giáo hội Công Giáo tại Đức. Trước khi rời khỏi đó, tôi hỏi Viện Phụ tôi phải làm gì nếu như công việc của tôi chấm dứt tại Münster. Ông không thể nào nghĩ rằng điều ấy có thể xảy ra. Trong chuyến hành trình về Münster, tôi đã đọc một bài báo viết về một cuộc họp mặt quan trọng của các giáo viên đảng Xã hội – Quốc gia, trong đó cũng có sự tham gia các thành viên của Đảng Công giáo xã hội. Đối với tôi rõ ràng rằng nơi khó chấp nhận nhất những ảnh hưởng trái chiều của quyền lực chính là việc giảng dạy. Học viện nơi tôi đang giảng dạy hoàn toàn thuộc về Công giáo, được thành lập bởi Liên đoàn các nam nữ giáo viên Công giáo và được duy trì bởi chính hội này. Chính bởi vậy, những ngày có thể tồn tại được đếm trên đầu ngón tay. Sự nghiệp giáo viên ngắn ngủi của tôi cũng đến lúc kết thúc cùng với nó.

     Ngày 19 tháng Tư tôi về đến Münster. Ngày tiếp theo tôi đến Học viện. Giám đốc học viện đang đi nghỉ ở Hy Lạp. Quản trị viên, là một giáo sư công giáo, dẫn tôi đến văn phòng của ông và giải tỏa với tôi nỗi đau của ông. Mấy tuần này, ông ta đã thực hiện những công việc gây nhiều phiền toái và đã làm ông nản lòng. “Tính xem, thưa Tiến sỹ, có người đã nói: Tiến sỹ Stein có lẽ không thể tiếp tục giảng dạy phải không?” Có lẽ tốt hơn là tôi nên ngừng việc giảng dạy vào mùa hè này và âm thầm làm việc tại Marianum. Tình hình có thể sáng sủa hơn vào mùa thu, Học viện có thể được Giáo Hội tiếp quản, và không có ai phản đối việc cộng tác của tôi. Tôi đón nhận thông tin cách rất thanh thản. Không cần ai phải an ủi tôi. “Nếu việc này không có kết quả”, tôi nói, “thì không còn cơ hội nào cho tôi ở Đức nữa”. Quản trị viên bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tôi vì tôi đã nhìn mọi sự rất rõ ràng mặc dù tôi sống rất siêu thoát và rất ít bận tâm đến mọi sự của thế gian này.

     Tôi gần như cảm thấy tốt hơn khi thấy rằng tôi có chung vận mệnh, nhưng tôi cũng phải suy nghĩ về những gì phải làm tiếp theo. Tôi hỏi ý kiến của chủ tịch Liên đoàn nữ giáo viên Công giáo. Bà ấy là nguyên nhân đưa tôi đến Münster. Bà ấy khuyên dù ở trong bất kỳ trường hợp nào tôi nên ở lại Münster mùa hè năm đó, và tiếp tục việc nghiên cứu khoa học mà tôi đã bắt đầu. Liên đoàn sẽ lo việc chu cấp cho tôi, vì có thể thu lợi nhuận từ việc nghiên cứu của tôi. Nếu tôi không thể tiếp tục việc giảng dạy tại Học viện, tôi có thể xem xét đến những khả năng đến từ nước ngoài. Quả thực, tôi đã có một lời mời từ Nam Mỹ. Nhưng khi lời mời đó đến nơi, tôi đã được chỉ cho một hướng đi hoàn toàn khác.

     Khoảng mười ngày sau khi trở về từ Beuron, một suy nghĩ đến với tôi: Cuối cùng đây không phải là lúc tôi đến với Dòng Cát Minh sao? Đã gần mười hai năm nay, Cát Minh luôn là đích đến của tôi. Kể từ mùa hè năm 1921, cuốn “Tự Thuật” của Mẹ Thánh Têrêxa của chúng ta đã rơi vào tay tôi, và nó đã đặt dấu chấm kết thúc cuộc hành trình dài tìm kiếm đức tin chân thật của tôi. Khi tôi nhận lãnh Phép rửa tội trong ngày đầu năm mới 1922, tôi nghĩ rằng đó chỉ là một bước chuẩn bị cho việc vào dòng Cát Minh. Nhưng một vài tháng sau đó, sau khi nhận bí tích rửa tội, khi báo tin đó cho mẹ tôi, tôi thấy rõ ràng rằng mẹ tôi không chịu nổi cú sốc thứ hai nữa. Có thể mẹ tôi sẽ không chết, nhưng như thể chất đầy trên bà nỗi đắng cay mà tôi không thể gánh lấy. Tôi phải kiên nhẫn chờ đợi. Các vị linh hướng của tôi cũng khuyên tôi như vậy. Việc chờ đợi ngày càng khó khăn đối với tôi. Tôi đã trở nên rất lạc lõng trong thế giới này. Trước khi chấp nhận công việc tại Münster và sau học kỳ đầu tiên, tôi đã xin phép khẩn thiết để được vào Dòng. Nhưng tôi bị từ chối vì việc của mẹ tôi và vì những hoạt động mà tôi đang thực hiện từ nhiều năm trong giới Công giáo. Tôi đồng ý với điều đó. Nhưng bây giờ mọi bức tường ngăn cản đã bị sụp đổ. Công việc của tôi đã kết thúc. Và mẹ tôi không muốn tôi ở trong một đan viện tại Đức hơn là trong một trường học ở Nam Mỹ sao? Ngày 30 tháng 4, Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, tại nhà thờ Thánh Ludgerio người ta cử hành lễ quan thầy với mười ba giờ chầu Thánh Thể. Vào giờ cuối cùng của buổi chiều, tôi đến đó và tự nói với chính mình: “Tôi sẽ không đi khỏi đây cho tới khi nhận ra rõ ràng đây có phải là lúc tôi phải vào dòng Cát Minh không”. Và khi vị chủ sự ban phép lành Thánh Thể, tôi đã có được sự đồng ý của Chúa Chiên Lành.

        Ngay đêm đó tôi viết thư cho Viện phụ. Ngài đang ở Roma và tôi không muốn gửi thư qua biên giới. Tôi để thư trên bàn làm việc chờ đợi cho đến khi có thể gửi đến Beuron. Đến giữa tháng Năm tôi có được phép để thực hiện những bước đầu tiên. Tôi đã làm điều đó ngay tức thì. Qua nữ dự tòng tôi quen biết ở Colonia tôi xin hẹn gặp nữ tiến sĩ Cosack. Chúng tôi đã gặp nhau vào tháng 10 năm 1932 tại Aquisgrán. Tôi xin gặp cô ấy vì cô biết rằng tôi rất hay qua lại với Cát Minh và cô nói với tôi cô có mối quan hệ chặt chẽ với Dòng và nhất là với đan viện Cát Minh ở Colonia. Qua cô ấy tôi muốn tìm hiểu về các khả năng. Cô ấy trả lời tôi rằng Chúa nhật trước Lễ Thăng Thiên cô ấy có thể dành cho tôi chút thời gian.

        Tôi nhận thư vào sáng thứ bảy. Buổi trưa tôi đi Colonia. Qua điện thoại tôi đồng ý với Tiến sĩ Cosack là sáng hôm sau cô ấy sẽ đến tìm tôi để cùng nhau đi dạo. Cả cô ấy cũng như nữ dự tòng lúc bấy giờ không hề biết lý do vì sao tôi đến đó. Nữ dự tòng cùng tôi đi dự thánh lễ sáng tại đan viện Cát Minh. Trên đường về cô ấy nói với tôi: “Edith, khi chị quỳ gối bên cạnh em, tự nhiên em nghĩ chị đang muốn vào dòng Cát Minh”. Tôi không muốn giấu bí mật của mình với cô ấy nữa. Cô ấy hứa với tôi sẽ không nói với ai cả. Một lát sau, cô tiến sĩ Cosack đến.

        Ngay khi chúng tôi trên đường đến công viên thành phố, tôi nói với cô ấy điều tôi đang mong muốn. Tôi thêm vào đó những gì có thể đưa ra chống lại tôi: Tuổi tác của tôi (42 tuổi), nguồn gốc Do thái, thiếu của hồi môn. Cô ấy thấy rằng điều này sẽ không cản trở ước muốn của tôi. Cô ấy cho tôi hy vọng rằng tôi sẽ có thể được nhận ở đây – Colonia, vì đã có vài chỗ trống do việc thành lập đan viện mới ở Silesia: Một nhà mới lập ngay cửa vào thành phố của tôi: Breslavia. Đây không phải là một dấu hiệu từ trời sao?

        Tôi trình bày với cô Cosack một cách cụ thể về tiến trình của tôi, để chính cô ấy có thể đưa ra nhận định về ơn gọi của tôi vào dòng Cát Minh. Cô ấy đề nghị cả hai chúng tôi cùng đến thăm dòng Cát Minh. Cô ấy giữ liên lạc đặc biệt với Soeur Marianne (Nữ bá tước Praschma), là người phải đi đến Silesia lập nhà mới. Cô ấy muốn nói chuyện với Soeur trước. Khi cô ở trong nhà khách, tôi quỳ cạnh bàn thờ thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Tôi tràn ngập bình an, bình an của người đã đến giờ sau hết. Cuộc nói chuyện kéo dài rất lâu. Cuối cùng, cô Cosack gọi tôi và nói với tôi đầy tin tưởng: “Tôi tin rằng họ sẽ làm gì đó”. Cô ấy đã nói chuyện đầu tiên với chị Marianne và tiếp sau đó với mẹ Bề Trên (lúc bấy giờ là Mẹ Josefa Thánh Thể) và cô đã dọn sẵn đường cho tôi. Nhưng thời biểu của đan viện không cho phép thêm thời gian cho nhà khách. Tôi phải quay lại sau giờ kinh chiều. Tôi quay trở lại nhà nguyện rất lâu trước giờ kinh chiều, tôi đọc kinh chung với các nữ tu. Các chị cũng làm các việc đạo đức tháng 5 đằng sau chấn song của ca triều. Lúc 3 giờ 30 các chị gọi tôi đến nhà khách. Mẹ Josefa và Mẹ đáng kính của chúng ta (Mẹ Têrêxa Renata Chúa Thánh Linh, lúc đó là phó bề trên và giáo tập) đang ở bên trong chấn song. Một lần nữa tôi ý thức về con đường của mình: Ý tưởng về Cát Minh chưa bao giờ rời khỏi tôi, tôi đã sống tám năm với các nữ tu Đa Minh với tư cách là giáo viên, tôi đã gắn bó mật thiết với tu viện biết chừng nào nhưng tôi không muốn vào dòng đó: Tôi đã xem Beuron như tiền đường của thiên quốc, tuy nhiên chưa bao giờ tôi nghĩ mình sẽ trở thành nữ tu Biển Đức. Dường như Thiên Chúa đã luôn dành sẵn cho tôi nơi dòng Cát Minh những gì mà chỉ ở đó tôi mới có thể tìm thấy được. Điều này làm các mẹ cảm động. Điều duy nhất mẹ Têrêxa lo ngại là trách nhiệm về việc cho phép nhận một người vẫn làm được nhiều việc bên ngoài thế gian như vậy. Cuối cùng các mẹ nói tôi phải quay trở lại khi Cha Giám Tỉnh có mặt. Các mẹ mong ngài sẽ sớm ở đó.

        Buổi chiều, tôi trở lại Münster. Mọi sự đã diễn ra nhanh chóng hơn rất nhiều so với những gì tôi mong đợi lúc khởi hành. Nhưng Cha Giám Tỉnh khiến mọi sự phải chờ đợi. Vào những ngày của Lễ Ngũ Tuần, tôi đã đến thánh đường Münster nhiều lần. Được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần tôi viết thư cho Mẹ Josefa, khẩn thiết xin mẹ một câu trả lời nhanh chóng, bởi vì tình trạng không chắc chắn của tôi, tôi muốn biết rõ ràng những gì tôi có thể tiếp tục tính toán. Tôi được gọi tới Colonia. Cha đại diện của đan viện muốn nhận tôi mà không đợi phép của Cha Giám Tỉnh. Có lẽ trong việc đề xuất lần này các nữ tu trong hội đồng phải bỏ phiếu cho việc nhận tôi. Tôi đến ở Colonia một lần nữa từ chiều thứ bảy đến tối Chúa nhật (tôi nghĩ đó là ngày 18-19 tháng 6). Mẹ Josefa, Mẹ Têrêxa và chị Marianne bảo tôi phải gặp bạn tôi trước khi tới gặp Vị chủ sự.

        Khi tôi đang trên đường đến nhà tiến sỹ Lenné, thình lình ập tới một cơn dông, khi tới nơi thì tôi bị ướt sũng. Tôi phải đợi một giờ cho tới khi ông tới. Sau khi chào hỏi ông đặt tay lên trán và hỏi tôi: “Vậy là cô muốn gì ở tôi? Tôi đã hoàn toàn quên mất”. Tôi trả lời tôi là một ứng sinh dòng Cát Minh mà ông đã được thông tin. Ông nhận ra điều đó và ngừng nói đùa với tôi. Sau này tôi mới biết là ông muốn thử tôi. Tôi đã không hề nghi ngờ về chuyện đó. Ông yêu cầu tôi kể lại cho ông một lần nữa tất cả những gì ông đã biết. Ông nói cho tôi biết những chống đối của ông đối với tôi, cách lịch thiệp ông bảo đảm với tôi rằng bình thường các nữ tu sẽ không thay đổi ý kiến vì những chống đối của ông và ông sẽ thống nhất cách tốt đẹp với họ. Ông chúc lành cho tôi và từ biệt tôi.

        Sau giờ kinh chiều, tất cả các chị trong hội đồng đến chấn song. Mẹ Têrêxa đáng kính của chúng ta, là người cao niên nhất, tiến sát lại gần để có thể nhìn và nghe rõ hơn. Chị Aloisia, rất nhiệt tình với phụng vụ, muốn biết gì đó về Beuron. Với điều này tôi có thể có nhiều hy vọng. Cuối cùng tôi phải hát một bài thánh ca. Các mẹ đã nói với tôi ngày hôm trước, nhưng tôi nghĩ rằng các mẹ chỉ nói đùa. Tôi hát: “Phúc thay Mẹ Maria…” hơi nhút nhát và thấp giọng. Sau đó tôi nói rằng việc này đối với tôi còn khó hơn việc thuyết trình trước một nghìn người. Sau này tôi biết các nữ tu không hiểu rõ điều tôi nói vì họ không biết về các hoạt động về thuyết trình của tôi. Khi các nữ tu đã đi hết, mẹ Josefa nói với tôi việc bỏ phiếu không thể tiến hành cho đến sáng ngày hôm sau. Tối hôm đó tôi phải rời đi mà không biết sự gì. Chị Marianne, người cuối cùng nói chuyện riêng với tôi, hứa sẽ gửi điện báo cho tôi.

     Thật vậy, ngày hôm sau tôi nhận được điện báo: “Vui vẻ đón nhận. Chào thăm. Cát Minh”. Tôi đọc điện báo và đến nhà nguyện để tạ ơn. Chúng tôi đã thỏa thuận về mọi chuyện khác. Cho đến ngày 15 tháng 7, tôi có thời gian để thu xếp mọi việc ở Münster. Ngày 16, lễ Nữ Vương Dòng Cát Minh, tôi sẽ mừng lễ tại Cát Minh Colonia. Tôi phải ở đó với tư cách là khách trong các phòng ngoài bàn xoay, giữa tháng 8 tôi sẽ về nhà, và lễ Mẹ Thánh Têrêxa 15 tháng 10, tôi sẽ được nhận vào nội cấm. Việc chuyển tôi sau này đến Cát Minh Silesia cũng đã được lên kế hoạch.

     Sáu rương sách lớn được chuyển trước đến Colonia. Tôi viết cho các chị về việc này vì không có nữ tu Cát Minh nào mang theo của hồi môn giống như tôi. Chị Ursula sẽ đảm nhiệm việc bảo quản sách. Chị ấy đã tận tâm khéo léo để chúng riêng ra, bỏ ra khỏi rương, phân loại theo thần học, triết học, ngữ văn…(chúng đã được sắp xếp như vậy trong các rương). Nhưng cuối cùng tất cả đều bị trộn lẫn.

     Rất ít người ở Münster biết tôi chuẩn bị đi đâu. Tôi muốn chừng nào có thể, giữ bí mật về việc này khi mà gia đình tôi chưa biết gì cả. Một trong số ít đó là Bề trên của Marianum. Tôi đã tín nhiệm nói cho bà ngay khi tôi nhận được điện báo. Bà đã rất lo lắng cho tôi và rất vui khi biết điều đó. Một buổi tối từ biệt diễn ra trong phòng âm nhạc của học viện ngay trước khi tôi ra đi. Các sinh viên đã chuẩn bị với rất nhiều tình cảm và các nữ tu cũng góp phần trong đó. Tôi nói đôi lời để cám ơn họ và nói với họ rằng sau này khi họ biết tôi đi đâu, họ sẽ vui hơn nữa cùng với tôi.

     Các nữ tu trong nhà tặng tôi cây Thánh Giá mà Đức Cố Giám Mục Juan Poggenburg đã tặng cho họ. Mẹ bề trên đem nó đến cho tôi trên một cái khay phủ đầy hoa hồng. Năm sinh viên và vị thủ thư đưa tôi lên tàu. Tôi có thể mang theo những cành hồng thật đẹp để dâng lên Nữ Vương Dòng Cát Minh trong ngày lễ của Mẹ. Đã được khoảng một năm rưỡi, khi mà tôi đến Münster như một người lạ. Ngoài việc giảng dạy, tôi đã sống ở đó như ẩn mình trong nội cấm. Tuy nhiên bây giờ tôi đã để lại đó một liên kết lớn lao của những người đã yêu thương và tin tưởng tôi. Tôi đã luôn giữ những kỷ niệm đầy tình cảm và lòng biết ơn về thành phố xinh đẹp, cổ kính cũng như vùng phụ cận của Münster. (Hết phần 1)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *