CẢM NGHIỆM NHÂN DỊP KỶ NIỆM 400 NĂM PHONG THÁNH TÊ-RÊ-XA AVILA ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CÁT MINH CHÂN TRẦN (OCD)

CẢM NGHIỆM NHÂN DỊP KỶ NIỆM 400 NĂM PHONG THÁNH TÊ-RÊ-XA AVILA- ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CÁT MINH CHÂN TRẦN (OCD)

Vào chiều thứ 7, ngày 12 tháng 3 năm 2022 vừa qua, Đức thánh Cha Phan-xi-cô tham dự thánh lễ nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày phong thánh của năm vị thánh gần gũi và có sức ảnh hưởng đến đời sống đức tin của Giáo hội là thánh Tê-rê-xa Avila, thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, thánh Ignatio, thánh Phi-lip-phê- Neri và thánh Isidoro Labrador. Tại nhà thờ Chúa Giêsu của Dòng Tên ở Rô-ma, Cha Arturo Sosa Abascal, Bề trên Tổng quyền Dòng tên đã chủ sự thánh lễ, cùng với hai Đức Hồng Y còn có Cha Miguel Márquez Calle, OCD, Bề trên Tổng quyền Dòng Cát Minh Chân Trần, với nhiều linh mục, và giáo dân.

Thánh Tê-rê-xa thành Avila sinh ngày 28 tháng 3 năm 1515 tại thành Avila, nước Tây Ban Nha, trong gia đình giàu có. Tê-rê-xa Avila gia nhập dòng Cát Minh năm 1536. Qua đời sống nhiệm nhặt, cầu nguyện liên lĩ, các thị kiến như được trông thấy hai bàn tay của Chúa Giê-su rồi tiếp sau là khuôn mặt sáng ngời của Ngài, vào dịp sau lễ Phục Sinh và nhất là thị kiến lửa luyện ngục thiêu đốt các linh hồn. Ngài được Chúa mời gọi cộng tác với Chúa trong việc “cải tổ” Dòng Cát Minh. Ngày 24 tháng 8 năm 1562, tu viện đầu tiên đã mọc lên ở Avila với bốn tập sinh và ngày càng có nhiều thiếu nữ xin gia nhập. Quy luật dòng rất nghiêm nhặt, như đi chân không, chú trọng đến việc ăn chay, hãm mình đánh tội, thức khuya dậy sớm, đọc kinh cầu nguyện rất nhiều. Và cũng từ đó, các tu viện được xây cất thêm mỗi ngày một đông, chứng tỏ Thiên Chúa rất hài lòng và chúc lành cho công việc lớn lao của thánh nữ. Mẹ qua đời ngày 5 tháng 10 năm 1582 tại đan viện Alba de Tomes. Kể từ đó danh thơm về sự thánh thiện của ngài không ngừng lan toả. Chín năm sau khi Tê-rê-xa qua đời, vào tháng 10 năm 1591, Giáo phận Salamanca đã chính thức khởi sự tiến trình điều tra cuộc đời của mẹ, các nhân đức và các phép lạ. Vào năm 1595, với ước muốn của Vua Phillip Đệ Nhị, vị Khâm sứ của Đức thánh cha đã tiếp tục các tiến trình với những lời tuyên bố mang tính làm chứng cứ mới đến từ khắp nơi. Vào ngày 12 tháng 3 năm 1622, Đức Giáo Hoàng Gregory XV đã tuyên phong ngài lên bậc hiển thánh qua Tông Sắc Omnipotens sermo Dei. Đến năm 1970, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã tôn nhận Tê-rê-xa Avila làm nữ Tiến sĩ Hội Thánh đầu tiên của Giáo hội Công giáo cùng với thánh nữ Catharine Siena.

Cùng đồng tế với đông đảo các linh mục, trong phần giảng lễ Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô nhấn mạnh vào sự kiện Chúa Giê-su biến hình trên núi trước mặt ba môn đệ yêu dấu của Ngài. Dựa vào bài Tin Mừng giải thích bốn “động từ” chính, mang theo các môn đệ, lên núi”, cầu nguyện và “ở lại”.

Thứ nhất, chính Chúa Giê-su “mang theo” các môn đệ và cả chúng ta nữa diễn tả như là một “cộng đoàn.” Cộng đoàn là những người đều được Chúa mới gọi, cùng nhau cộng tác với Ngài trong việc loan báo Tin Mừng cho nhân loại. Ngài vì yêu “cộng đoàn” đã chọn, gọi và cho các môn đệ và cả chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp rực rỡ, hạnh phúc viên mãn, bình an nội tâm đích thực khi được cùng ở Ngài. Ba môn đệ được hạnh phúc chiêm ngưỡng vinh quang rực rỡ của Thầy mình không phải vì họ xứng đáng hay vì công sức của họ nhưng vì tình yêu của Ngài.

Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô nhấn mạnh hành động “lên núi”, vì núi là biểu tượng của sự khó khăn, chông gai, “lên núi” chứ không phải “xuống núi”, nghĩa là đối mặt với khó khăn, dám hy sinh và can đảm để vượt qua thử thách và hường về “đỉnh núi” là đích đến của niềm vui, hạnh phúc, bình an và là nơi Chúa chờ đợi để gặp gỡ chúng ta. Vậy hành trình theo Chúa Giêsu và để được chứng kiến dung nhan xán lạn của Ngài, chúng ta được mời gọi can đảm, trung thành bước theo Chúa dù gặp khó khăn, thử thách và kể cả đau thương. Phải hy sinh và bỏ lại sau lưng những gì thuộc về thế giới chóng qua để hướng về đích điểm cuối cùng là được cùng với Chúa hưởng hạnh phúc viên mãn muôn đời.

Tin Mừng nói cho chúng ta biết là Chúa Giêsu lên núi để cầu nguyện” (Lc 9:28). “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9:29). Sự việc xảy ra đang khi Chúa Giê-su “cầu nguyện.”

Đức Thánh cha Phan-xi-cô nhắn nhủ với cộng đoàn, thành viên của các Hội Dòng rằng có mặt và nhất là các linh mục Dòng Tên rằng: “chúng ta hãy tự hỏi, sau bao nhiêu năm thi hành sứ vụ, CẦU NGUYỆN là gì đối với chúng ta ngày nay. Có lẽ sức mạnh của thói quen và một thứ nghi thức nào đó làm cho chúng ta nghĩ rằng kinh nguyện không biến đổi con người và lịch sử. Nhưng thức tế, CẦU NGUYỆN là biến đổi thực tại. Đó là một sứ vụ tích cực, một sự chuyển cầu liên tục. CẦU NGUYỆN không phải là xa cách thế giới, nhưng là biến đổi thế giới.”

Khi nói về cầu nguyện, Giáo hội luôn nhắc tới thánh Tê-rê-xa Avila vì cầu nguyện và suy ngắm hay chiêm niệm chiếm địa vị ưu tiên trong tinh thần tu đức của thánh nữ. Phương pháp cầu nguyện tốt nhất, theo thánh nữ, là đặt mình trước mặt một Thiên Chúa giàu lòng thương xót và nhận biết sự nhỏ bé, hèn mọn của mình.

Thánh Tê-rê-xa Avila ưa nguyện ngắm hơn cả là đời sống hy sinh vì yêu và vì cuộc tử nạn của Chúa Giê-su. Vì thế trong mọi hoàn cảnh, thánh nữ luôn múc lấy sức mạnh nơi thánh giá Chúa và luôn luôn tâm niệm lời Chúa: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23). Thánh nữ đã viết: “Tôi không phàn nàn về thân phận của tôi, quả thực tôi không yếu đuối như những phụ nữ khác. Tôi có một trái tim quả cảm. Thiên Chúa nâng đỡ những ai quyết tin tưởng nơi Ngài. Chúa là sức mạnh, là nơi nương tựa và hướng đạo của tôi.” Ngài đã sống và đã chết với lòng tin tưởng ấy. Có lần thánh nữ than thở với Chúa: “Lạy Chúa, dù thành công hay thất bại, dù vui sướng hay đau khổ con vẫn một lòng tin tưởng vào Chúa”.

Có lẽ, tin tưởng tuyệt đối và phó thác cuộc đời chúng ta vào Thiên Chúa giàu lòng thương xót như thánh nữ Tê-rê-xa Avila là mẫu gương và cũng là lời nhắc nhở mỗi người chúng ta về mối tương quan của mình với Thiên Chúa. Nhất là khi chúng ta gặp khó khăn trong cuộc sống đặc biệt là trong thời gian vừa qua khi cả thế giới đối diện với đại dịch, đau thương, mất mát, và có cả thất vọng, và chán nãn. Cầu nguyện là điều gì đó thiêng liêng, thánh thiện và là niềm hy vọng duy nhất chúng ta mong chờ. “Cầu nguyện” là điều gì đó thật sự gần gũi với đời sống hằng ngày trên hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Nhưng cầu nguyện như thế nào để tìm ra điều Chúa muốn và đáp lại tiếng Chúa mời gọi là điều đáng để chúng ta bận tâm, là điều chúng ta được mời gọi.

Động từ cuối cùng là “ở lại”_“tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giê-su” (Lc 9: 36). Sau khi được Chúa Giê-su tỏ mình cho ba môn đệ thì ông Phê-rô thưa với Người rằng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a. Ông không biết mình đang nói gì. Ông còn đang nói, thì bỗng có một đám mây bao phủ các ông…từ đám mây có tiếng phán rằng: ‘Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!’” (Lc 9: 33-35). Đoạn kết của đoạn Tin Mừng cho chúng ta biết điều quan trong nhất sau khi chúng ta cầu nguyện. Đó là “ở lại với Chúa và lắng nghe lời Người.” Vâng, ở lại với Chúa và lắng nghe lời Người để chúng ta biết Chúa muốn gì nơi mỗi người chúng ta và để chúng ta nhận biết được đâu là điều thuộc về Thiên Chúa và đâu là những thứ thuộc về trần gian. Chúng ta phải “ở lại với Chúa và lắng nghe lời Ngài” vì nếu không chúng ta sẽ bị ma quỷ và những cám giỗ của thế gian chi phối dẫn đến lạc đường.

Nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày phong thánh của năm vị thánh lừng danh của Giáo hội, đặc biệt là thánh nữ Tê-rê-xa Avila, đấng sáng lập Dòng Cát Minh Chân Trần, nguyện xin các Thánh cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta để chúng ta mỗi ngày chúng ta  biết “mang theo- đồng hành, lên núi”, cầu nguyện và “ở lại” với Chúa Ki-tô qua đời sống cầu nguyện và hy sinh của mình.  

Tu sĩ Micae Phạm Quang Diệu, OCD.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *