SỰ THÁNH THIỆN – ĐIỂM ĐẾN CỦA TIẾN TRÌNH THIÊNG LIÊNG
Loạt bài mừng kỷ niệm 400 năm tuyên phong hiển thánh của Mẹ Thánh Tê-rê-xa chúng ta được mở đầu với bài viết “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Lv 19, 2).
Có 3 điểm chính đã được đề cập đến trong bài mở đầu: 1. sự thánh thiện của con người là sự đáp trả trước lời mời gọi nên thánh của Thiên Chúa, 2. tóm lược vắn tắt sự anh hùng trong việc thực thi các nhân đức của Mẹ đã được Giáo Hội công nhận và long trọng tuyên bố bằng việc tuyên thánh, 3. tâm tình cần có cho lễ mừng kỷ niệm này: sự chuẩn bị về mặt tâm linh là điều quan trọng hơn hết. Nối tiếp với ý tưởng của bài viết trên, nội dung sau đây trình bày giáo huấn của Mẹ Thánh Tê-rê-xa về sự thánh thiện Ki-tô giáo trong những cư sở thứ 7 của tác phẩm Castillo Interior (Bản dịch tiếng Việt là Lâu đài Nội tâm).
Trong tác phẩm Lâu đài Nội tâm, Mẹ quảng diễn mức độ của sự thánh thiện mà Chúa đã nâng Mẹ lên. Tuy nhiên, khi viết điều này Mẹ không khỏi rùng mình vì sự bất toàn bất xứng của chính bản thân: “Ôi lạy Thiên Chúa cao cả! Một thụ tạo thật đớn hèn như con đây phải run rẩy khi bàn đến điều vượt xa những gì con đáng được hiểu… Bởi vì người ta sẽ nghĩ rằng tôi biết điều này là do kinh nghiệm và nó làm cho tôi thấy xấu hổ khủng khiếp” (7LĐNT 1, 2). Đồng thời, Mẹ cũng nêu rõ đây chỉ là kinh nghiệm cá nhân của Mẹ, còn đối với những người khác, sự thánh thiện của họ sẽ theo một cách thức khác (x. 7LĐNT 2, 1). Nội dung của những cư sở thứ 7 được trình bày trong bốn chương, và đây được xem là một khảo luận vắn tắt về sự thánh thiện mà người tín hữu có thể đạt đến ở đời này.
Tiến trình thiêng liêng nơi tác phẩm Lâu đài Nội tâm được Mẹ Thánh Tê-rê-xa mô tả qua những biểu tượng khác nhau. Tại những cư sở thứ 7 này, Mẹ tiếp tục sử dụng những biểu tượng đã được trình bày trước đó để có thể đi vào chiều sâu không thể biểu đạt của sự thánh thiện Ki-tô giáo. Tuy nhiên, ở đây những biểu tượng ấy đạt đến giá trị cực đại về ngữ nghĩa. Có 3 biểu tượng được đề cập đến:
- Castillo– Thành trì: Sự thánh thiện được giới thiệu như một công trình có khả năng tác động đến nơi sâu thẳm nhất của con người – nơi sâu thẳm của “thần trí”. Nó tẩy sạch và chiếu sáng toàn bộ hữu thể con người và những gì có liên hệ với cái thần thiêng. Cái thần thiêng hiện diện ở nơi sâu nhất của con người, tức là cư sở cuối cùng của thành trì.
- Metamorfosis– Sự biến đổi: Sự biến đổi hình dạng của con tằm thành con bướm và của chim phượng hoàng được tái sinh từ nắm tro của chính nó. Sự thánh thiện tương ứng với thời điểm mà con bướm nhỏ của linh hồn chết đi, được bọc lấy trong lửa và ánh sáng. Và sự thánh thiện là vượt thắng con người cũ để tiến đến sự tròn đầy của con người mới trong Đức Ki-tô: “đây là điều thánh Phao-lô nói: ai kết hiệp với Thiên Chúa thì nên một thần trí với Người” (7LĐNT 2,5). Sự thánh thiện ở đây là chính cuộc đời của người đã “được tái sinh” từ nắm tro của mình giống như con chim phượng hoàng trong thần thoại.
- Símbolo nucial– Biểu tượng hôn lễ: Đây là biểu tượng mang tính biểu đạt, quan trọng và mang tính Thánh Kinh nhất trong ba biểu tượng. Theo đó, sự thánh thiện tương ứng với “hôn phối thiêng liêng” giữa linh hồn với Thiên Chúa trong sự hiệp thông tình yêu cách hoàn toàn: trong sự kết hiệp tròn đầy và dứt khoát, với sự bảo đảm không quay trở lại tình trạng trước đây, tham dự trước vào sự thánh thiện trên trời. Như thế, sự thánh thiện không phải là kết quả của sự trưởng thành của con người nhân loại, nhưng là sự cộng sinh của người ấy vào Đấng Thần Thiêng. Sự thánh thiện là một ơn từ tình yêu đã lãnh nhận hơn là đạt được bởi sự nỗ lực bản thân. Sự thánh thiện là sự hiệp thông với Đấng Thánh của các thánh hơn là sự hoàn thiện của bậc thánh nhân.
Đi xa hơn những biểu tượng nói trên, Mẹ Thánh Tê-rê-xa trình bày một phân tích mang tính giáo huấn về sự thánh thiện ở giai đoạn cuối cùng trong tiến trình thiêng liêng. Mẹ có kinh nghiệm và cả những ý tưởng rất rõ ràng. Cấu trúc của bốn chương trong những cư sở thứ 7 tương ứng một cách tiệm tiến với câu hỏi của chúng ta: “Sự thánh thiện là gì?”. Bốn chương này chứa đựng bốn câu trả lời tiệm tiến. Chúng phản ánh rõ ràng những ý tưởng của Mẹ về điều mà thánh Phao-lô gọi là “sự viên mãn” của con người mới trong Đức Ki-tô: sự tròn đầy của cuộc đời ân sủng. Nghĩa là:
- Trước hết, sự thánh thiện là một công trình của Ba Ngôi mà trong đó người Ki-tô hữu tuân theo Tin Mừng: “mà Chúa đã nói: Người cùng với Cha và Chúa Thánh Thần sẽ đến cư ngụ nơi linh hồn yêu mến Người và vâng giữ các giới răn của Người”. “Mỗi ngày linh hồn càng hãi hùng dữ dội hơn, bởi nó cảm thấy Ba Ngôi không hề lìa bỏ mình…, nhưng cư ngự nơi nội cung của linh hồn mình, nơi nội cung sâu thẳm” (7LĐNT 1, 6-7). Sự thánh hóa con người được thực hiện bởi sự hiện diện của Thiên Chúa nơi con người. Ba Ngôi làm cho sự thánh của Thiên Chúa hiện diện nơi con người.
- Sự thánh thiện là một công trình của Đức Ki-tô. Ở đây, hàm chứa trong sự kết hiệp tròn đầy của người Ki-tô hữu với Đức Ki-tô, để người ấy có thể nói như thánh Phao-lô: “Sống là Đức Ki-tô và chết là một mối lợi”. Bởi tại nơi đây, con bướm nhỏ -mà chúng ta đã nói đến- chết đi trong niềm vui sướng vô ngần, vì cuộc đời của nó là chính Đức Ki-tô (x. 7LĐNT 2, 5). Nó tuân theo những lời mà Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ khi cầu nguyện: “cho họ nên một với Cha và với Người, cũng như Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta ở trong Cha và Cha ở trong Người. Tôi không biết tình yêu nào có thể lớn hơn tình yêu này nữa” (7LĐNT 2, 7, 2). Sự kết hiệp không thể hủy bỏ được của Chúa Giê-su với Cha là hình ảnh hoàn hảo nhất của sự thánh thiện tròn đầy nơi người Ki-tô hữu: tính ổn định và không quay trở lại với tình trạng trước đây.
- Sự thánh thiện là một công trình của con người. Nó dẫn đời sống của con người mới trong Đức Ki-tô đến sự tròn đầy. Người ấy có thể nói với sự sẵn sàng hoàn toàn: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?. Người ấy tin rằng Thiên Chúa nghe lời mình nói, “và Người sẽ chỉ cho chị em nhiều phương thế để làm vui lòng Người” (7LĐNT 3, 9). Trên bình diện nhân loại, sự thánh thiện là một giá trị có tác động đến toàn bộ con người ở mức độ tâm lý, đạo đức và đối thần.
- Cuối cùng, sự thánh thiện là sự đồng hình đồng dạng tròn đầy với Đức Ki-tô trong việc phục vụ Giáo Hội và anh chị em mình. Người thánh thiện phải thực hiện cử chỉ biểu trưng của Maria khi dùng tóc mình mà lau chân Chúa (x. 7LĐNT 4, 13), hoặc như của chính Chúa Giê-su, khi không chỉ sống phục vụ con người, mà người ấy còn là “đầy tớ của Thiên Chúa” và “là nô lệ của Thiên Chúa, và được Chúa đóng dấu hiệu tức là thánh giá của Người vào…, Người có thể bán họ như người ta bán nô lệ cho cả thế giới như chính Người đã bị bán. Người không xử tệ với họ đâu, nhưng là ban cho họ một ơn không nhỏ” (7LĐNT 4, 8). Những người theo đường tâm linh thực thụ hệ tại trong việc đồng hình đồng dạng này. Và vì thế mà họ là những thánh nhân.
Bốn yếu tố hợp thành sự thánh thiện nói trên là sự phát triển cao độ của ân sủng trổ sinh được ban cho người tín hữu khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội: Sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi, sự tháp nhập trong Đức Ki-tô Phục sinh, thụ tạo mới, đích đến của việc phục vụ trong nhiệm thể của Giáo Hội. Đây là sự phát triển tròn đầy của mầu nhiệm ân sủng.
Ở bình diện nhân học, Mẹ Thánh Tê-rê-xa trình bày chi tiết những đặc điểm nhận diện một Ki-tô hữu đạt đến sự đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô cách tròn đầy, nghĩa là đạt đến tầm mức của sự thánh thiện. Ở đây xin nêu 4 đặc điểm nhận diện đầu tiên và quan trọng:
- Nét đầu tiên: “trước hết là quên mình hoàn toàn, quên trọn vẹn dường như thực sự không còn linh hồn nữa, bởi vì linh hồn không còn biết, không còn nhớ có thiên đàng, có sự sống hay có danh dự cho mình hay không, mà chỉ lo tìm kiếm vinh dự cho Thiên Chúa mà thôi…dường như nó không còn hiện hữu và không muốn hiện hữu nữa. (7LĐNT 3, 2). Tức là, linh hồn đã vượt thắng được sự ích kỷ.
- Thứ hai: “ước muốn chịu đau khổ rất mãnh liệt, nhưng không làm cho linh hồn rối loạn…” (7LĐNT 3, 4). Điều này nhằm chia sẻ cuộc Thương Khó của Đấng chịu đóng đinh cách hoàn hảo hơn.
- Thứ ba: “nếu linh hồn này bị bách hại thì nó có được niềm vui sướng nội tâm lớn lao và bình an hơn nữa… Và nó không hằn học với những người cư xử tệ bạc hay muốn cư xử tệ bạc” (7LĐNT 3, 5). Đạt đến sự tròn đầy của tình yêu huynh đệ.
- Thứ tư: “Điều làm tôi hãi hùng hơn hết như khi các chị nhìn thấy đau khổ và ưu phiền của những linh hồn này bởi muốn chết đi để vui hưởng Thiên Chúa. Thì giờ đây họ lại khao khát mãnh liệt trong việc phụng sự Thiên Chúa… và làm ích cho các linh hồn nếu có thể được. Họ không những không khao khát chết, mà còn muốn sống thật lâu… như họ có thể, để qua họ, Chúa được chúc tụng ngay trong những điều nhỏ mọn nhất” (7LĐNT 3, 6).
Như thế, ở điểm thứ tư này có sự dung hợp giữa “sự quang lâm” và “sự phục vụ” mà thánh Phao-lô đã viết: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô và chết là một mối lợi. Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đằng nào. Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần: nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em. Và tôi biết chắc rằng tôi sẽ ở lại và ở bên cạnh tất cả anh em để giúp anh em tấn tới và được hưởng niềm vui đức tin mang lại cho anh em. Như thế, trong Đức Ki-tô Giê-su, anh em càng có lý do để hãnh diện về tôi, khi tôi lại đến gặp anh em” (Pl 1, 21-26).
Rosa Mystica, OCD.
Nguồn: Santidad, Tomás ÁLVAREZ (Chủ nhiệm), Diccionario de Santa Teresa de Jesús, Monte Carmelo-Burgos, 2000, tr. 1203- 1207.
