
Lc 10,25-37
“Ai là người thân cận của tôi?”
Dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành chỉ được tường thuật lại bởi thánh sử Luca. Chúng ta không gặp thấy dụ ngôn này trong bản văn của ba vị Mátthêu, Máccô, hay Gioan. Ngay từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo, dụ ngôn này đã được giải thích trong bối cảnh của lịch sử cứu chuộc. Chúng ta có những chú thích của Origen (185 – 253):
“Người đi xuống là Adam. Giê-ru-sa-lem là thiên đường và Giê-ri-khô là thế gian. Những tên cướp là các thế lực thù địch. Thầy tư tế là Luật pháp, thầy Lê-vi là các tiên tri, và người Sa-ma-ri là Chúa Kitô. Những vết thương là sự bất tuân, con lừa tượng trưng cho Thân Thể của Chúa, quán trọ, nơi đón nhận tất cả những ai muốn vào, là Giáo hội. […] Người quản lý [quán trọ] là người đứng đầu Giáo hội, người được giao phó việc chăm sóc. Và việc người Sa-ma-ri hứa rằng ông sẽ trở lại ám chỉ việc Đấng Cứu Độ ngự đến lần thứ hai”.[1]
Người Sa-ma-ri nhân lành là hình ảnh của chính Chúa Giêsu Kitô. Không chỉ Origen, rất nhiều tác giả khác cũng có cách nhìn nhận này, ví dụ, Clement of Alexandria (150-215), Ambrose (339-390), hay cả thánh Augustine (354-430). Trong số những người đi ngang qua khúc đường ấy và trông thấy nạn nhân nửa sống nửa chết nằm đó, chỉ có người Sa-ma-ri tốt lành “tới chỗ nạn nhân […] động lòng thương, [và] lại gần” (Lc 10,33-34) người bị hại. Hành động “tới chỗ nạn nhân, và […] lại gần” ấy phản chiếu hình ảnh một Thiên Chúa là Cha nhân từ đi tìm và tiến lại gần con người thương tích bởi tội lỗi. Trong Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, chúng ta có được sự gần gũi tròn đầy và viên mãn nhất giữa Thiên Chúa và con người (GLHTCG 65), bởi vì trong mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa mặc lấy bản tính con người và sống như chúng ta để cứu chữa chúng ta. Do đó, chính Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta noi theo để sống trọn vẹn hai giới răn quan trọng nhất, “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình” (Lc 10, 27)
Bên cạnh đó, dụ ngôn này được chúa Giêsu sử dụng để trả lời cho câu hỏi được đặt ra bởi người thông luật, “Ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10,29). Thông qua câu hỏi dành cho người thông luật sau khi đã kể câu chuyện dụ ngôn, “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Lc 10,36), Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ người nghe rằng, câu hỏi trọng yếu không phải là “Ai là người thân cận của tôi ?”, nhưng là “Tôi có thể trở nên người thân cận cho những ai? Lòng tôi có đủ rộng lượng, và bao dung cho tha nhân hay chăng?”. Nói một cách khác, chúng ta được mời gọi để mở lòng mình ra với hết những ai cần đến sự giúp đỡ của chúng ta, không phân biệt, không kỳ thị.
Chúa Giêsu không dừng lại ở đối tượng cần được giúp đỡ, nhưng Người dẫn dắt chúng ta xa hơn thế nữa. Lòng thương xót của người Sa-ma-ri trở thành những hành động thiết thực: tới chỗ nạn nhân, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác’ (cf. Lc 10, 33-35). Lòng bác ái không dừng lại ở ngôn từ trên môi miệng, nhưng cần được cụ thể hóa bằng hành động thiết thực. Chính thánh Gioan tông đồ cũng nhắn nhủ các tín hữu: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Gv 3,18)
Lời Chúa Giêsu nhắn nhủ người thông luật cũng dành cho mỗi người chúng ta: “hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10, 37).
[1] Bản dịch cá nhân từ nguồn: Origen, Homily 34.3, Joseph T. Lienhard, trans., Origen: Homilies on Luke, Fragments on Luke, Catholic University of America Press, Washington D.C. 1996, 138.
Lm. Gioan Nguyễn hồng Phúc,
